Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ

Giới thiệu

Nằm ở phía đông nam và cách TP.HCM hơn 50 km, đặc trưng nổi tiếng của Cần Giờ là những khu rừng ngập mặn xanh mướt cùng hệ thống sông ngòi dày đặc và hệ động thực vật phong phú cả trên cạn lẫn dưới nước. Đóng vai trò như “lá phổi xanh” của khu vực. Năm 2000 rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ, khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ có diện tích 75.740 ha. Rừng được chia làm 3 vùng chính là lõi, chuyển tiếp và đệm, chiếm diện tích lần lượt là 4.721 ha, 29.880 ha và 41.139 ha. Với lượng lớn phù sa bù đắp từ sông Đồng Nai và chịu tác động của các đợt thủy triều do kế cận biển, nơi đây trở thành nơi cư ngụ của nhiều loại động, thực vật.

Rừng ngập mặn Cần Giờ có điều kiện môi trường đặc biệt, là hệ sinh thái trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực và hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn. Do đó, nơi đây phát triển quần thể gồm cả các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh. Trong đó có nhiều loại động thực vật quý hiếm thuộc danh mục sách đỏ.

Sách đỏ Việt Nam ghi nhận rừng ngập mặn Cần Giờ có 11 loài bò sát quý hiếm như tắc kè, kỳ đà nước, trăn đất, trăn gấm, rắn cạp nong, rắn hổ mang, rắn hổ chúa, cá sấu hoa cà…Khu dự trữ sinh quyển này còn được ví như “sân ga” của các loài chim di cư. Đây là nơi cư ngụ của hơn 130 loài chim thuộc 47 họ, 17 bộ. Đến đây, du khách có thể bắt gặp nhiều loài chim quý như bồ nông chân xám, diệc xám, vạc, già đẫy, giang sen… kiếm ăn trên các kênh rạch, đầm lầy…

  • Về thực vật: nhiều loại cây, chủ yếu là bần trắng, mấm trắng, các quần hợp đước đôi – bần trắng cùng xu ổi, trang, đưng v.v… và các loại nước lợ như bần chua, ô rô, dừa lá, ráng, v.v… Thảm cỏ biển với các loài ưu thế Halophyla sp., Halodule sp., và Thalassia sp.; đất canh tác nông nghiệp với lúa, khoai mỡ, các loại đậu, dừa, các loại cây ăn quả. Khảo sát của Phạm Văn Ngọt và cộng sự (2007) ghi nhận rừng ngập mặn Cần Giờ có 220 loài thực vật bậc cao với 155 chi, thuộc 60 họ; trong đó, các họ có nhiều loài nhất gồm: họ Cúc (Asteraceae) 8 loài, họ thầu dầu (Euphorbiaceae) 9 loài, họ Đước (Rhizophoraceae) 13 loài, họ Cói (Cyperaceae) 20 loài, họ Hòa thảo (Poaceae) 20 loài, họ Đậu (Fabaceae) 29 loài.
  • Về động vật: khu hệ động vật thủy sinh không xương sống với trên 700 loài, khu hệ cá trên 130 loài, khu hệ động vật có xương sống có 9 loài lưỡng thê, 31 loài bò sát, 4 loài có vú. Trong đó có 11 loài bò sát có tên trong sách đỏ Việt Nam như: tắc kè (gekko gekko), kỳ đà nước (varanus salvator), trăn đất (python molurus), trăn gấm (python reticulatus), rắn cạp nong (bungarus fasciatus), rắn hổ mang (naja naja), rắn hổ chúa (ophiophagus hannah), vích (chelonia mydas), cá sấu hoa cà (crocodylus porosus)… Khu hệ chim có khoảng 130 loài thuộc 47 họ, 17 bộ. Trong đó có 51 loài chim nước và 79 loài không phải chim nước sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau

Trước chiến tranh, Cần Giờ vốn đã là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú. Xong nơi đây từng bị bom đạn và chất độc hủy hoại trong cuộc kháng chiến của dân tộc. Tới năm 1978, khi được sáp nhập về TP. HCM, Cần Giờ như được tái tạo lại. Nhiệm vụ trồng rừng đã làm sống lại tới 31.000ha cây trồng và tự nhiên.

Đây là một khu rừng mà theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài là được khôi phục, chăm sóc, bảo vệ thuộc loại tốt nhất ở Việt Nam và toàn thế giới. Đây cũng là địa điểm lý tưởng phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái.

Nhằm xây dựng những hạt nhân trong quản lý, bảo vệ rừng, từ năm 1994 đến nay, Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ đã tiến hành giao khoán bảo vệ rừng cho trên 144 hộ gia đình tại địa phương. Mô hình này đã phát huy hiệu quả tốt khi các hộ giữ rừng đã yên tâm gắn bó và tích cực tham gia công tác bảo vệ rừng. Dân cư tập trung sinh sống trong vùng chuyển tiếp, riêng vùng lõi và vùng đệm chỉ có các hộ dân giữ rừng.

Đặc trưng văn hóa

Lễ Nghinh Ông Cần Giờ là di sản phi vật thể Quốc gia (được công nhận năm 2013), Khu Di tích lịch sử Căn cứ Rừng Sác là di tích lịch sử cấp Quốc gia (được công nhận năm 2004).
Ngoài ra, trên địa bàn còn nhiều di tích cho thấy lịch sử phát triển lâu đời của Khu DTSQTG RNM Cần Giờ như: Di chỉ khảo cổ Giồng Cá Vồ, Đình Cần Thạnh, Lăng Ông Thủy Tướng Cần Thạnh, Đình Dương Văn Hạnh và Đình Bình Khánh – Mộ tiền hiền Trần Quang Đạo…

Các khu bảo tồn và loài sinh vật quý hiếm

Trong Khu DTSQTG RNM Cần Giờ có 3 khu bảo tồn các loài động vật, bao gồm:
• Khu bảo tồn chim (Sân Chim Vàm Sát) là môi trường sống của khoảng 2.000 cá thể chim thuộc 33 loài, trong đó có 26 loài định cư và 07 loài di cư.
• Khu bảo tồn dơi (Đầm Dơi) tại tiểu khu 15a là nơi trú ngụ của hơn 500 cá thể dơi, chủ yếu là loài Dơi ngựa (Pteropus lylei);
• Khu bảo tồn khỉ (Khu Đảo Khỉ), với đàn Khỉ đuôi dài (Maccaca fascicularis) đã phát triển trên 1.000 con.

Vai trò Rừng ngập mặn ở Việt Nam

Rừng ngập mặn quan trọng là vì chúng cung cấp rất nhiều lợi ích cho con người, động vật và những hệ sinh thái xung quanh.

Cung cấp sinh kế cho con người

Rừng ngập mặn cung cấp nhiều loại nguyên vật liệu mà con người cần. Con người ăn, đánh bắt và bán nhiều loài cá và động vật có vỏ sống trong rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn còn cung cấp nhiều nguyên liệu mà con người thường xuyên sử dụng như củi và than (từ những cành cây chết), dược liệu, sợi, thuốc nhuộm, mật ong và lá dừa để lợp mái. Rừng ngập mặn có giá trị về văn hóa đối với rất nhiều người và còn thích hợp cho du lịch. Rừng ngập mặn đang là nơi cung cấp sinh kế cho nhiều người trên toàn thế giới,họ sống dựa vào việc khai khác các giá trị từ những cánh rừng ngập mặn.

Theo Cục Lâm nghiệp, trên thế giới, giá trị kinh tế của rừng ngập mặn đối với nuôi trồng thủy sản hàng năm được hỗ trợ bởi rừng ngập mặn từ 750 – 16.750 USD/ha và điều này cho thấy, giá trị hỗ trợ tiềm năng của rừng ngập mặn. 

Bảo vệ chống thiên tai

Rừng ngập mặn bảo vệ con người, nhà cửa và ruộng rẫy khỏi thiên tai như bão, ngập lụt và sóng triều. Những thân cây, cành và rễ của rừng ngập mặn có vai trò như những rào cản giúp giảm những ảnh hưởng của sóng, ngập lụt và gió mạnh.

Giảm xói lở và bảo vệ đất

Rừng ngập mặn có một hệ thống lớn các thân, cành và rễ giúp bảo vệ bờ biển và đất đai khỏi xói lở và ảnh hưởng của sóng. Thường tại những khu vực bờ sông và bờ biển nơi rừng ngập mặn đã bị tàn phá thì hiện tượng xói lở xảy ra rất mạnh. Hệ thống lớn các thân, cành và rễ còn giúp cho quá trình lấn biển giúp tăng diện tích đất bằng cách giữ lại và kết dính những vật liệu phù sa từ sông mang ra. Cũng bằng cách này mà cây rừng ngập mặn tự xây dựng cho mình môi trường sống thích hợp. Loài Mắm là cây tiên phong trong việc phát triển rừng ngập mặn, chúng giúp cốt kết đất bùn loãng và giữ phù sa ở lại, sau đó là các loài khác phát triển theo như Đước, Bần, ô rô, quá trình xảy ra liên tục, rừng ngập mặn ngày càng phát triển hướng ra biển và các bãi bồi ven biển.

Giảm ô nhiễm

Rừng ngập mặn giúp lọc bỏ các chất phú dưỡng, trầm tích và chất ô nhiễm ra khỏi đại dương và sông ngòi. Vì thế, chúng giúp lọc sạch nước cho những hệ thống sinh thái xung quanh (như hệ sinh thái san hô, cỏ biển). Rừng ngập mặn được ví như là quả Thận của môi trường. Bằng các quá trình sinh hóa phức tạp, rừng ngập mặn phân giải, chuyển hóa, hấp thụ các chất độc hại.

Hấp thụ và lưu giữ carbon. Đánh giá khoa học khẳng định: Trong số các loại rừng, rừng ngập mặn có khả năng tích trữ khí carbon tốt nhất. Loại rừng này có thể hấp thụ lượng carbon nhiều gấp 4 lần so với rừng nhiệt đới truyền thống trên đất liền

Giảm tác động của biến đổi khí hậu

Với việc biến đổi khí hậu được dự đoán là sẽ làm tăng mức độ xảy ra của những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão và lũ lụt, rừng ngập mặn sẽ trở nên đặc biệt quan trọng để bảo vệ con người, nhà cửa và ruộng đồng khỏi những thiên tai này. Rừng ngập mặn còn có tác dụng rất tốt trong việc loại thải khí nhà kính (vốn là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu) ra khỏi bầu khí quyển.

Nguồn sống cho động vật

Rừng ngập mặn cung cấp chỗ cư ngụ và nguồn thức ăn cho rất nhiều loại cá, động vật có vỏ (như nghêu, sò,cua,ốc..), chim và động vật có vú. Một vài động vật có thể được tìm thấy trong rừng ngập mặn bao gồm: nhiều loại cá, chim, cua, sò huyết, nghêu, hàu, tôm, ốc, chuột, dơi và khỉ. Rừng ngập mặn còn là khu vực kiếm ăn, nơi sinh sản và nuôi dưỡng quan trọng của nhiều loài cá, động vật có vỏ và tôm. Lá và thân cây ngập mặn, khi bị phân hủy sẽ cung cấp những vụn chất hữu cơ vốn là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài thủy sinh. Tương tự như vậy, các loài sinh vật phù du sống dưới rễ của các cây ngập mặn là nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều loài cá.

Rừng ngập mặn đặc biệt quan trọng đối với các loài cá đánh bắt thương mại, vốn có rất nhiều loài đã đẻ trứng trong rễ cây rừng ngập mặn nhằm mục đích bảo vệ con của chúng. Quan trọng hơn, 75% các loài cá đánh bắt thương mại ở vùng nhiệt đới trải qua một khoảng thời gian nào đó trong vòng đời của mình tại các khu rừng ngập mặn.

Rừng ngập mặn đóng một vai trò đặc biệt trong các hệ thống lưới thức ăn phức tạp. Điều này có nghĩa là sự phá hủy rừng ngập mặn có thể có tác động rất xấu và rộng đến đời sống thủy sinh và đại dương. Sự suy kiệt của rừng ngập mặn là một nguyên nhân chính dẫn đến suy kiệt đời sống thủy sinh vì rừng ngập mặn không còn để đóng vai trò như vườn ươm hay chỗ kiếm ăn cho những sinh vật thủy sinh nhỏ. Kết quả là, trữ lượng thủy sản không thể được tái tạo. Sản lượng cá, tôm, động vật có vỏ và cua sẽ giảm khi diện tích rừng giảm. Không có các sinh vật thủy sinh nhỏ vào thời điểm này nghĩa là không có nguồn cá để đánh bắt trong tương lai.

Mối nguy hại đối với rừng ngập mặn

Trong quá khứ, tầm quan trọng của rừng ngập mặn cho môi trường và bảo vệ con người không được biết đến rõ ràng và kết quả là nhiều khu rừng ngập mặn trên khắp thế giới bị tàn phá. Khoảng phân nửa diện tích rừng ngập mặn của thế giới đã bị phá hủy trong suốt 50 năm qua. Ở Việt Nam, trong suốt giai đoạn từ năm 1969 đến 1990, khoảng 33% diện tích rừng ngập mặn của nước ta đã bị phá hủy, khiến cho diện tích che phủ rừng giảm từ 425.000 ha còn 286.400 ha. Vào năm 2002 diện tích rừng ngập mặn chỉ còn 155.290 ha. Tiếc thay, rừng ngập mặn vẫn đang bị tàn phá thông qua một số các hoạt động của cả con người và các quá trình tự nhiên.

Sự phá hủy bởi con người

Mối đe dọa lớn nhất đến những khu rừng ngập mặn là sự tàn phá của con người. Nhiều người phá hủy rừng ngập mặn bằng cách chặt cây để lấy củi và gỗ, hay lấy đất để nuôi tôm, trồng cây cho những mục đích xây dựng và phát triển khác. Một số người khác nhổ rễ và tàn phá cây rừng ngập mặn để đào sâm đất (con đồm độp) và bắt cua. Một vài cách thức bắt thủy sản cũng có hại đến rừng ngập mặn như kéo và đẩy lưới gần cây con sẽ làm tróc hay bật rễ của chúng. Ngoài ra chiến tranh và sử dụng vũ khí hóa học đã phá hủy một diện tích lớn rừng ngập mặn của Việt Nam cũng như Thế giới trong quá khứ.

Các hóa chất và chất ô nhiễm

Rừng ngập mặn cũng có thể bị tổn thương hoặc phá hủy bởi những hóa chất và chất ô nhiễm như thuốc trừ sâu và phân bón. Những chất này đi theo nước chảy tràn từ đồng ruộng, hay nước thải từ các khu nuôi trồng thủy sản và các thành phố, theo các con sông và kênh rạch để tập trung ở rừng ngập mặn. Những mối đe dọa tự nhiên rừng ngập mặn còn có thể bị đe dọa bởi những cơn sóng lớn hay thảm họa tự nhiên như các cơn bão. Sâu và bệnh cũng gây ảnh hưởng xấu đến cây rừng ngập mặn. Con hàu gây tổn hại cho các cây con bằng cách bám mình vào thân và rễ cây.

Biến đổi khí hậu

Trong tương lai khi mực nước biển dâng do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ đe dọa đến rừng ngập mặn trên khắp thế giới. Khi nước biển dâng, một số khu vực sinh sống của một số cây rừng ngập mặn sẽ bị ngập nhiều hơn (hay bị quá mặn) cho loài cây rừng đó sinh sống. Nếu cây ngập mặn không thể di chuyển lên vùng đất cao hơn, do bị cản bởi đê hay các vật cản khác, cây sẽ không có chỗ nào để sống và bị chết ngập. Biến đổi khí hậu cũng được dự đoán là sẽ tăng cường độ những sự kiện thời tiết cực đoan như bão tố và lũ lụt. Càng nhiều lần xuất hiện những sự kiện như vậy thì rừng càng bị tổn thương (do không kịp phục hồi).

Hoạt động bảo vệ

Rất nhiều chính phủ trên khắp thế giới trong đó có Việt Nam đã đặt ra những luật để bảo vệ rừng ngập mặn, và đã bắt đầu thực hiện những chương trình trồng lại rừng để tăng diện tích bao phủ bởi rừng ngập mặn. So với mức độ bao phủ rừng vào khoảng 155.290 ha của năm 1990, năm 2005 Việt Nam đã trồng và đạt được diện tích rừng ngập mặn là 209.741 ha. Các hoạt động tuyên truyền khuyến khích bảo vệ rừng ngập mặn bao gồm:

  • Cẩn thận khi đi trong rừng ngập mặn: không vô tình làm gãy cây rừng hay giẫm đạp lên cây con khi đi vào trong rừng, hay lúc đi đánh bắt tài nguyên như cua, tôm và cá.
  • Giữ sạch môi trường nước: không vứt rác thải vào sông, rạch hay biển, bởi vì nó sẽ trôi theo dòng nước để đến rừng ngập mặn.
  • Không sử dụng các hóa chất và thuốc trừ sâu bởi khi theo dòng nước thải ra biển chung đặc biệt nguy hiểm cho các khu rừng ngập mặn.
  • Tổ chức và vận động tham gia vào các sự kiện trồng rừng ngập mặn.

Các hoạt động hỗ trợ quốc tế dành cho Việt Nam.

Dự án Hiện đại hóa ngành lâm nghiệp và tăng cường tính chống chịu vùng ven biển vay vốn từ Ngân hàng Thế giới (WB) là một trong nhiều dự án đang triển khai trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng ven biển. Ông Phạm Hồng Vích – Phó Trưởng ban Ban quản lý các dự án lâm nghiệp cho biết, đến nay dự án đã trồng và phục hồi gần 4.000 ha rừng cùng 37.000 ha được chi trả khoán quản lý bảo vệ đã góp phần tạo các dải rừng phòng hộ ven biển cho 8 tỉnh, thành.

Thông tin khác

Cả nước với tổng diện tích khoảng 200.000ha (chỉ chiếm 1,5% tổng diện tích rừng quốc gia)

Kết quả cho thấy trữ lượng carbon từ rừng ngập mặn của Việt Nam là khoảng 245 tấn/ha. Trong số đó, trung bình lượng carbon trong sinh khối của thực vật sống (gồm cả phần thực vật sống trên mặt đất và phần rễ dưới mặt đất) chỉ chiếm 29%, còn lại 71% nằm trong đất dưới tán rừng ngập mặn (độ sâu khoảng 30cm).

Reforestation of mangroves after severe impacts of herbicides during the the Viet Nam war: the case of Can Gio

P.N. Hong

Phan Nguyen Hong is Professor at the Centre for Natural Resources and Environmental Studies, Viet Nam National University, Hanoi.

Mangroves grow quickly, but rehabilitated forests must be appropriately managed to prevent renewed deforestation from shrimp farming and fuelwood collection.

Mangroves form a rich and diversified ecosystem on which coastal dwellers in the Mekong Delta of Viet Nam have depended for decades. The mangroves have provided local people not only with food (fish and shellfish) but also with timber, charcoal and fuelwood. Mangrove forests offer food, habitats and reproductive grounds for many marine species and several terrestrial animals and birds.

During the Viet Nam war, mangroves in the south provided strong resistance bases for Vietnamese people. Consequently, the foreign military used bombs, cannonfire and toxic chemicals (herbicides and defoliants in high concentrations) to destroy the forests. The principal herbicides that were used include “agent orange” as well as white agent (mainly to destroy forest trees) and blue agent – chemicals that kill the forests. Of the total mangrove area in southern Viet Nam of 291 000 ha, 105 000 ha or 36 percent were sprayed one or more times.

A large part of timber and other resources in mangrove areas were lost. Forest soil was chemically changed because of the loss of protective vegetation cover, with lower pH from insufficient freshwater in the dry season and higher salinity because of increased evaporation. Without the protection that mangroves offer against tides, waves and water currents, severe coastal and riverbank erosion occurred.

For a few years after the defoliant spraying, fish, crustaceans, molluscs and other aquatic resources increased in number as decomposed leaves from fallen mangroves created abundant food in water. However, they later decreased rapidly when no mangroves remained. After mangroves were destroyed by herbicides, some species such as crocodiles and tigers became extinct. Monkeys, lizards and birds, which used to be found in great numbers in mangroves, also decreased gradually after the war. Added to the direct effects of mangrove loss were the indirect impacts on the livelihoods of people who depended on the wildlife and other forest resources.

Between 1978 and 1999, some 21 400 of the original 40 000 ha of mangroves were rehabilitated in Can Gio, a district of Ho Chi Minh City in southern Viet Nam.

MANGROVE REFORESTATION IN CAN GIO DISTRICT

Before the war, Can Gio had about 40 000 ha of dense mangrove forests, but by 1971 they had been almost completely destroyed. From 1972, some mangrove species regenerated naturally in areas flooded by tides, but because of a lack of cooking fuel the mangroves were destroyed by the local people. In 1978, aware of the significance of mangrove ecosystem rehabilitation, the People’s Committee of Ho Chi Minh City invested in reforestation. This was undertaken by the City Forestry Service and the People’s Committee of Can Gio District.

The objectives of the mangrove reforestation in the district were:

  • to restore the mangrove ecosystem previously destroyed by herbicides;
  • to stabilize the land and restrict erosion;
  • to contribute to the improvement of the environment by reducing the pollution caused by industrial waste and smoke discharge;
  • to create habitats for terrestrial animals and provide nursery breeding grounds for aquatic resources.
  • to create employment and raise the income of foresters and fisherfolk through silviculture and aquaculture activities, so improving the standard of living of local inhabitants;
  • to supply part of the demand for fuelwood and poles.

The main species planted were the fast-growing Rhizophora apiriculata (the main economic species) and other species such as Nypa friticansCeriops tagal and Rhizophora mucronata. From 1978 to 1994, 18 120 ha of R. apiculata and 1 031 ha of Nypa palm were replanted.

The reforestation in Can Gio was mainly done by youngsters and schoolchildren. Consequently, the technical aspects of reforestation were neglected and the survival rate was low. In the first years of the R. apiculata plantation, because of the lack of experience, the planting density was too high. Of the 29 583 ha of R. apiculata planted in Can Gio from 1978 to 1989, only 18 125 ha were covered with mangroves at the beginning of 1990.

Through the 1980s, the success rate of the rehabilitation was limited by inadequate management, continued fuelwood collection and conversion to shrimp ponds (see section on management and protection, below).

By 1996, nearly 35 000 ha of mangrove forest had been replanted in Can Gio; of these, about 20 000 ha are now growing well.

The mangrove flora is now fairly similar to that before the herbicide spraying, although the amounts and distribution are not the same. There are 72 mangrove species reported, 30 of which are true mangroves (species that can only grow in areas inundated regularly with tidal water, even if only once a year) and 42 associated mangrove species. Besides the mangrove flora, 95 species belonging to 42 families of inland plants dispersed by humans and animals have been found.

Today, the mangroves in Can Gio are more diverse in community structure than before the war. An explanation for this is that in these mangroves, replanted species have mixed with naturally regenerated species.

RESTORED ENVIRONMENTAL BENEFITS

The rehabilitated mangrove forests in Can Gio have reduced erosion of river banks, and large tidal sandy mud flats have formed for benthos habitats and shell and clam farming. Mangrove rehabilitation has changed the soil properties because of sediments formed by litter fall with the help of large quantities of fine and fibrous root matter. The substrate has been gradually transformed into loam and the pH value has subsequently increased.

Mangrove rehabilitation has contributed to protection from storms and reduction of salt intrusion in the agricultural production areas of Can Gio and neighbouring districts. Rehabilitated mangroves act as filtering systems for air pollution and for the waters of the estuary, trapping sediments and preventing solid waste from Ho Chi Minh City from discharging to the sea.

The organic debris produced by mangrove vegetation promotes food chains, spawning and nursery grounds for many vertebrates and fish. Fifteen years after the mangrove restoration, the environment has improved and has encouraged the return of birds and other wild animals. Fauna have become more and more abundant. Can Gio now provides a habitat for:

  • 127 species of fish belonging to 38 families;
  • 9 species of amphibians belonging to 4 families, including tree frogs (Racophorus leucomystax);
  • 30 species of 14 families of reptiles;
  • 19 species of mammals belonging to 13 families;
  • 5 species of Chiropterans.

Birds have an important role in the ecosystem, contributing actively to the enrichment of food sources and the soil. From 1975 to 1980, birds were very rare in Can Gio mangrove areas. Since the 1980s, an increasing number of birds have come back to the area. Besides waterfowl, migratory species from the north, such as Numenius arquata, Tringa hypoleucos and Charadrius dubius, appear in large numbers in winter. Many shore birds such as Phalacrocorax carbo, Centropus sinensis, Egretta garzetta, Egretta alba, Threskiornis melanocephalus, Plegadis facinellus and Dendrocygna javanica are present on the mudflats.

Among the terrestrial mammals, after mangrove restoration, the species with the most numerous individuals in the mangroves is the macaque (Macaca fascicularis), which lives in troops of 30 to 40 along the rivers and canals. Groups of wild boar (Sus scrofa) are abundant in Phoenix paludosa patches.

MANAGEMENT AND PROTECTION OF REPLANTED FORESTS AT CAN GIO

In the 1980s, the replanted mangroves were not appropriately managed. A Forestry Enterprise made up of a small group of forestry workers, with insufficient means of transport and communication, was responsible for the protection of a vast area. Local inhabitants and nearby coastal dwellers, under economic stress, destroyed newly replanted mangroves through overharvesting for fuelwood and conversion to shrimp ponds.

By the end of 1989, however, owing to the young age of the forest, many collective farms and villages could not cover management costs; hence they returned the land to the People’s Committee. These areas were left largely unmanaged, becoming an open-access resource threatened by overexploitation.

In May 1991, the government approved a project for the environmental protection of the forests of Ho Chi Minh City, and the People’s Committee invested funds and proper equipment to protect the forests. The Forestry Enterprise was converted into the Management Board of the City’s Environmentally Protected Forests (MBCEPF); personnel was increased and the city put into practice a policy of land and forest allocation to households. As a result, the destruction of forests markedly decreased.

Activities in the forest are now monitored and recorded. The main guard force includes workers from MBCEPF, workers from the agroforestry enterprises, employees of the Forestry Agency and households allocated forests to protect under 30-year contracts with MBCEPF. To date, 10 850 ha have been allocated to 208 household guards. The guards are given monthly salaries, 35 percent of the forest produce from thinnings, an allocation of 3 to 5 ha per household for aquaculture or salt ponds, assistance with difficulties and rewards for good protection of the forests. Other benefits to households include money to build houses on allocated land, boats for forest protection, loans for authorized fisheries production, and technical help through short training courses on thinning, reforestation and shrimp farming.

These activities have been repaid: at the beginning of 2000, the Can Gio mangroves were designated for inclusion in the United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization’s World Network of Biosphere Reserves. From 1998 to 2001, ecotourism in Can Gio has developed rapidly. The troops of macaques, reared crocodiles and other wild mammals in the protected Can Gio Forestry Park have attracted many tourists. The development of ecotourism has been contributing to the socio-economic improvement of the local community.

Leave a comment