Ngũ Hành Sơn

Ngũ Hành Sơn là một danh thắng gồm 6 ngọn núi đá vôi nhô lên trên một bãi cát ven biển, gồm: Mộc SơnThủy Sơn (lớn, cao và đẹp nhất), Thổ SơnKim Sơn và Hỏa Sơn (có hai ngọn là Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn).

Theo các nhà địa chất học, cụm núi này trước đây là các hòn đảo ở gần bờ biển do tác dụng của thủy triều, phù sa bồi đắp mà nối liền với lục địa. Hiện nay bờ biển rút xa dần và cách chân núi Thủy Sơn khoảng 800 mét. Dần dà, vì bị nước mưa và khí hậu tác động xói mòn tạo ra những hang động và hình thù kỳ thú. Đặc biệt, đá cẩm thạch tại đây có màu ngũ sắc, phân chia theo từng núi: đá ở Thủy Sơn thường có màu hồng, ở Mộc Sơn thường có màu trắng, ở Hỏa Sơn thường có màu đỏ, ở Kim Sơn thường có màu thủy mặc và ở Thổ Sơn thường có màu nâu.

Các loại thảo mộc quý có mọc ở đây là: Thiên tuế, Thạch trường sanh, Cung-nhân-thảo (Amaryllis) lài trắng, Cảnh-thiên (Crassule), Mộc tê, Chương não, Thử lý (M. Vyridiflora, có tinh dầu dùng để trét ghe thuyền), Tứ quý… Về hoa rừng có nhiều loại phong lan. Về động vật có loài khỉ Dộc hiền, và các loại dơi, chim yến, v.v…

Ngoài các dấu ấn văn hóa lịch sử còn in đậm trong các hang động, và trên mỗi công trình chùa, tháp đầu ở các thế kỷ trước, như mộ mẹ tướng quân Trần Quang Diệu, đền thờ Công chúa Ngọc Lan (em gái vua Minh Mạng), bút tích sắc phong quốc tự còn lưu giữ tại chùa Tam Thai của triều Nguyễn, v.v…; ở đây còn có các di tích lịch sử đấu tranh của nhân dân Việt như Địa đạo núi Đá Chồng, hang Bà Tho, núi Kim Sơn, hang Âm Phủ

Năm ngọn Ngũ Hành

Kim Sơn

Kim Sơn ở phía bắc 2 ngọn Hỏa Sơn, phía Đông Nam là đường Sư Vạn Hạnh, phía Bắc là ngọn Thổ Sơn. Hình dáng núi trông như một quả chuông úp sấp, nằm giữa Hỏa Sơn và Thổ Sơn, và bên cạnh dòng sông Trường nối dài với sông Hàn. Ngày nay dòng sông Trường đã bị bồi lấp một phần thành đồng ruộng và ao hồ. Nằm tựa lưng vào ngọn núi này là ngôi chùa Quan Âm cổ kính với động Quan Âm huyền bí.

Mộc Sơn

Mộc Sơn ở phía Đông Nam, nằm song song với núi Thủy Sơn. Dù mang tên là “mộc” nhưng cây cối ở đây rất ít. Theo Quách Tấn, xưa kia núi này cũng là một hòn kỳ vĩ, với sườn núi dựng đứng, đá trắng nhô lên tua tủa. Về sau, sườn núi ở phía Bắc và phía Nam bị đào xới nhiều nên trông như một bức thành hư lồi lõm.

Thủy Sơn

Thủy Sơn nằm trên bãi đất rộng theo hướng Đông Bắc, khoảng 15 ha, cao khoảng 160m. Vì núi có ba đỉnh nằm ở ba tầng, giống như ba ngôi sao Tam Thai ở đuôi chòm sao Đại Hùng (dân gian gọi là Sao Cày), nên còn có tên gọi là núi Tam Thai. Đây là ngọn núi lớn, cao và đẹp nhất, thường được nhiều người đến tham quan.

Sơ lược ba đỉnh của núi:

– Thượng Thai: là ngọn cao nhất 160m ở phía Tây Bắc của Thủy Sơn, đáng kể có: chùa Tam Thai, chùa Tam Tôn, chùa Từ Tâm, khu Hành Cung, Vọng Giang Đài, động Hoa Nghiêm (một trong số tượng ở đây có tượng nữ thần Thiên Y A Na của người Chăm), động Huyền Không, động Linh Nham,…

– Trung Thai: là ngọn thấp hơn một chút ở phía Nam của Thủy Sơn, đáng kể có: Cổng trời (Cổng Vân Căn Nguyệt Quật), động Vân Thông (tục gọi là Hang Lên Trời), động Thiên Long (tục gọi là Hang Rồng), động Thiên Phước Địa…

– Hạ Thai: là ngọn phía Đông thấp nhất của Thủy Sơn, đáng kể có: chùa Linh Ứng, tháp Xá Lợi, Vọng Hải Đài (đài ngắm biển), động Tàng Chơn…

Đặc biệt, trên Thủy Sơn còn có hai di vật cổ quý hiếm, đó là tấm bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật tại động Hoa Nghiêm và tấm Kim bài hình quả tim lửa có bút tích của vua Minh Mạng ban tặng cho chùa Tam Thai. Bia Phổ Đà sơn lập vào năm Canh Thìn (1640) ghi lại danh sách 53 tín hữu (trong đó có ít nhất có 10 gia đình người Nhật Bản) đã cúng hàng ngàn quan tiền, hàng chục lạng bạc nén và hàng trăm cân đồng để xây dựng chùa Bình An. Trong danh sách những người Nhật góp tiền, có người tên Tống Ngũ Lang còn được Chu Thuấn Thủy nhắc đến với tư cách là bạn thân thiết trong An Nam cung dịch kỷ sự (Ký sự đến Việt Nam năm 1657, Vĩnh Sính dịch, Hội Khoa học Lịch Sử Việt Nam xuất bản, 1999, t. 23-24)

Năm1825, vua Minh Mạng đến chơi ngọn Thủy Sơn đã cho xây dựng hai con đường bậc cấp đi lên núi, đó là lối đi lên chùa Tam Thai và lối đi lên chùa Linh Ứng (xưa gọi là Ứng Chơn). Ngày nay, hai con đường ấy là cổng phía Tây gồm có 156 bậc đá dẫn đến chùa Tam Thai (xây dựng năm 1630) và cổng phía đông gồm có 108 bậc dẫn đến chùa Linh Ứng.

Hỏa Sơn

Từ trái qua: Mộc Sơn - Hỏa Sơn - Kim Sơn

Hỏa Sơn ở phía Tây Nam, nằm đối diện với hòn Kim Sơn, bên trái đường Sư Vạn Hạnh. Ngày xưa con sông Cổ Cò chạy dọc theo phía Nam hòn Hỏa Sơn, nay dấu vết chỉ còn lại một dải nước hẹp nối liền hai đoạn sông Ba Chà và Bãi Dài còn lại ở đầu và cuối phường Hòa Hải. Đây là một hòn kép, gồm có một hòn Âm và một hòn Dương, được nối liền với nhau bằng một đường đá thiên tạo nhô cao hẳn lên. Ở khoảng giữa con đường này có chùa Ứng Thiên.

– Âm Hỏa Sơn nằm phía đông, gần đường Lê Văn Hiến, chóp núi tròn nhô lên cao hơn. Sườn núi có nhiều thớ đá nằm nghiêng và chạy nghiêng cắt ra từng đoạn, cây cối mọc ở các kẽ đá, ở mỏm núi phía đông có một cái hang thông từ sườn phía nam ra sườn phía bắc. Nhân dân địa phương thường đi theo đường này đến các hòn Kim Sơn và Thổ Sơn. Nơi Âm Hỏa Sơn không có động. Dưới chân núi có một tảng đá khắc 6 chữ: Phổ Đà Sơn Quan Âm điện. Vì thế Âm Hỏa Sơn cũng có tên nữa là “Phổ Đà Sơn”, bởi nơi đó khi xưa có điện thờ Bồ Tát Quan Thế Âm.

– Dương Hỏa Sơn (tên dân dã là “núi Ông Chài”) nằm ở phía tây. Ngày xưa, khi còn giao lưu được giữa Hội An và Đà Nẵng bằng đường thủy, ở đây có một bến sông, ghe thuyền đi về buôn bán vô cùng tấp nập. Trên bờ sông, sát chân hòn Dương Hỏa Sơn có khu miếu Ông Chài, hiện đã bị đổ nát. Tên dân dã “núi Ông Chài” có thể bắt nguồn từ đó. Trên Dương Hỏa Sơn có hai ngôi chùa cổ là chùa Linh Sơn và động Huyền Vi, chùa và hang Phổ Đà Sơn. Ngọn núi hướng về phía TâyNam sườn núi hiểm dốc và hang động rất tĩnh lặng. Nơi đây còn có di tích đền tháp của người Chăm.

Ngày nay, trên sườn núi phía Tây, mặt hướng về phía Bắc, đối diện với Kim Sơn có ba chữ Hán rất to được khắc vào vách đá “Dương Hỏa Sơn” và một dòng chữ nhỏ phải đến gần mới thấy: “Sắc Minh Mạng thập bát niên thất nguyệt nhật cát lợi” (Sắc Minh Mạng năm thứ 18, tháng 7, ngày tốt).

Thổ Sơn

Tên dân dã là “núi Đá Chồng” nằm ở phía Tây Bắc. Đây là ngọn núi đất, thấp nhất nhưng cũng dài nhất, trông như con rồng nằm dài trên bãi cát. Núi có hai tầng lô nhô những khối đá trên đỉnh và nhất là ở sườn phía đông. Sườn phía Bắc dốc hơn, có những vách đá dựng đứng, hẹp và thấp. Cây cỏ thưa thớt do bị phá hoại nhiều.

Theo truyền thuyết Thổ Sơn là nơi linh địa, và từ thuở xa xưa người Chăm đã chọn nơi đây làm nơi đồn trú. Hiện nơi đây còn lưu lại dấu tích của một kiến trúc Chăm.

Tại chân núi hiện có chùa Long Hoa, chùa Huệ Quang và dấu tích của một địa đạo. Theo thi sĩ Quách Tấn, sát chân núi có bến đò, gọi là Bến Ngự (sử Nguyễn ghi là bến Hóa Quê), vì xưa kia mỗi lần nhà vua đến viếng Ngũ Hành Sơn thì đậu thuyền tại đó. Tuy nhiên, có người cho rằng bến này ở núi Kim Sơn.

Truyền thuyết về sự hình thành

Theo truyền thuyết của người Chăm, ngày xưa có một cụ già từ miền biển phía Bắc xa xôi bơi thuyền đến cập vào bãi biển phía Đông (Đà Nẵng ngày nay), cụ lên bờ và dựng một túp lều tranh sống hiu quạnh một mình với công việc chài lưới.

Một buổi sáng, cụ sửa soạn thuyền để ra khơi đánh cá, thình lình trời bỗng nổi sấm, gió thổi vùn vụt, mặt biển sôi động, từng đợt sóng cao xô vào bờ cuồn cuộn. Trong tiếng gầm rít của gió, tiếng gào thét của sóng cụ già thấy hiện ra một con rồng khổng lồ làm mặt đất rung chuyển, cát bụi bay mù mịt, cụ già tưởng như căn lều của mình tan thành ra từng mảnh khi con rồng tiến gần về phía đó. Cụ bỗng nghe một tiếng sấm vang lên và từ dưới bụng con rồng lăn ra một quả trúng lớn, sau đó con rồng từ từ quay ra biển và biến mất sau những đợt sóng khổng lồ.

Một lát sau, trời yên biển lặng, cụ già chưa kịp hoàn hồn thì bỗng thấy một con rùa vàng lớn cũng từ ngoài khơi đi vào và đến bên túp lều, Rùa Vàng đào một lỗ trên cát rồi vùi quả trúng xuống. Sau đó Rùa Vàng quay lại bảo cụ già:”Ta là thần Kim Quy, ta muốn ngươi phải gắn sức bảo vệ giọt máu này của Long Quân”, chưa hết bàng hoàng, cụ già lúng túng trả lời: “nhưng tôi tuổi già, sức yếu làm sao đủ sức đảm đương công việc hệ trọng này”. Thần Kim Quy liền trao cho cụ già một chiếc móng và nói: “Ngươi đừng lo, hãy cầm lấy chiếc móng này và hễ có chuyện chẵng lành thì cứ đặt móng bên tai, ta sẽ chỉ cách cho”, cụ già nhận chiếc móng và nói: “Được, tôi xin cố hết sức”. Xong việc, thần Kim Quy liền quay ra biển và biến mất sau làn nước xanh.

Từ đó, cụ già giữ gìn và chăm nom quả trúng rất cẩn thận. Một hôm đang làm việc trong vườn, cụ già kinh hải khi thấy một chiếc xe trâu từ đằng xa cứ nhắm thẳng vào vị trí chôn quả trúng mà tiến đến, trên xe lố nhố những khuôn mặt dữ dằn với binh khí hùng hổ trên tay. Vơi ý nghĩ chỉ cần chiếc xe trâu lăn qua cũng đủ làm cho quả trúng vỡ tan tành, cụ già vội lấy chiếc móng rùa ra đặc sát bên tai mình và cụ nghe một giọng nói dịu dàng vang lên: “Hãy nằm xuống, nằm xuống đi”, cụ già liền làm theo, mới vừa nằm xuống cụ liền hóa thành một con hổ to lớn, bọn kia hoảng hồn quay xe tháo lui chạy mất. Sau đó, cụ già dỡ cả túp lều của mình đến dựng ngay bên trên chỗ chôn quả trứng Rồng. Cụ không ngờ trứng mỗi ngày một lớn và trồi dần lên khỏi mặt đất. Trứng cứ lớn mãi, lớn mãi choáng hết căn nhà tranh bé nhỏ của cụ. Vỏ trúng lấp lánh như một hòn ngọc khổng lồ. Một đêm cụ già vừa nằm chợp mắt thì nghe có tiếng lửa cháy lách tách, thì ra bọn người hôm nọ đang quay lại phóng lửa đốt túp lều của cụ, thấy thế cụ liền khấn xin thần Kim Quy cứu giúp. Vừa khấn xong, cụ liền thấy mình ở trong một hang đá rộng rãi mát mẻ, trong góc hang lại có giường chiếu sẳn sàng. Cụ không hề hay biết rằng có một phép màu đã xảy ra, chính cụ ở trong hang đá của một trong năm ngọn núi Cẩm Thạch vừa được biến thành từ năm mảnh vỡ của chiếc vỏ trúng thần. Từ trong chiếc trứng ấy đã bước ra một bé gái xinh xắn chính là giọt máu – con gái của Long Quân.

Cụ già bàng hoàng hơn khi bước ra cửa hang và nhìn thấy quanh mình có năm hòn núi đá vớiđủ loại cây cỏ, chim muôn… Từ đó cụ già với cô gái nhỏ sống bên nhau như hai cha con, chim chóc và thú rừng là những người bạn của họ. Hằng ngày, từng đàn chim thay nhau đi lấy sữa từ trong các mạch đá và hái trái cây quanh núi về nuôi cô bé, chúng còn tha bông vải từ các nơi về dệt nên những bộ quần áo xinh đẹp.

Vua Chăm nghe được câu chuyện ấy liền cưới thiếu nữ làm vợ, còn Thần Kim Quy thì chở ông lão lên trời.

Nghề làm đá ở Ngũ Hành Sơn

Dưới chân ngọn Thủy Sơn là các cơ sở điêu khắc đá mỹ nghệ phát triển từ các làng nghề có tuổi đời trên 400 năm, tổ nghề là Huỳnh Bá Quát, tiên tổ của Đô ngự sử Huỳnh Bá Chánh. Từ các loại đá cẩm thạch có ở Ngũ Hành Sơn, người thợ đã chế tác các tác phẩm tinh xảo.

Các chùa

Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn

Chùa tựa lưng vào vách núi, xây mặt ra biển, chu vi khoảng 150m, được xây dựng vào nữa đầu thế kỷ 17. Tương truyền rằng, vị tiền hiền có hiệu là Quan Chánh, thế danh là Bửu Đài tại làng Khái Đông thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn ngày nay, đã đến ẩn tu tại động Tàng Chơn và lập ra một thảo am trước động gọi là “Dưỡng Chơn Am”, sau cất một ngôi chùa bằng tranh tre gọi là “Dưỡng Chơn Am” tức là tiền thân của chùa Linh Ứng ngày nay. Đến đời Vua Gia Long ngự giá Ngũ Hành Sơn, ngài cho xây chùa lớn hơn đặc tên là “Ngự Chế Ứng Chơn Tự”. Năm Minh Mạng thứ 6 năm 1825, sau khi vi hành Ngũ Hành Sơn, nhà vua cho xây dựng lại bằng gạch ngói khang trang và sắc phong Quốc Tự đổi tên là “Ứng Chơn Tự” cho đến ngày nay. Cũng giống như chùa Tam Thai, chùa Linh Ứng theo năm tháng chiến tranh và thời gian đã trãi qua nhiều lần trùng tu, nhưng lần lớn nhất năm 1985, hiện nay chùa trở nên bề thế trang nghiêm, nhưng vẫn giữ được những nét cổ kính. Hiện chùa còn lưu giữ hai bảng vàng “Ngụ Chế Ứng Chơn Tự Minh Mạng Lục Niên” và “Cải Chế Linh Ứng Tự Thành Thái Tam Niên”.

Chùa thờ tượng Phật Thích Ca cao lớn ngay chính điện, bên phải và bên trái thờ Văn Thư Bồ Tát và Phổ Điền Bồ Tát.

Chùa Tam Thai

Theo Hải ngoại Ký sự của Thích Đại Sáng, khách của Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), vào cuối thế kỷ 17, tức năm 1695 trên đường về Trung Quốc, Ông đã ghé thăm chùa Tam Thai, như vậy có thể thấy chùa đã được xây dựng trước đó và được hình thành cách đây hơn 300 năm. Nguyên trước đây ngôi chùa làm bằng tranh, tre, nứa, lá. Đến năm Minh Mạng thứ 6 tức năm 1925, trong chuyến vi hành Ngũ Hành Sơn nhà vua đã cho xây dựng chùa bằng gạch ngói khang trang, được phong Quốc Tự và đặt tên là chùa Tam Thai, vào năm 1901, chùa đã bị phá hủy hoàn toàn trong cơn bão lớn và mãi đến 6 năm sau 1907 chùa được xây dựng lại với sự đóng góp của nhiều tín đồ Phật tử, và tồn tại cho đến nay. Chính ngôi chùa này em gái vua Minh Mạng tức công chúa Ngọc Lan đã phát nguyện tu suốt đời ở đây.

Chánh điện ngôi chùa thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, phật A Di Đà Như Lai, và Đức Đại Thế Chí.

Hang động

ĐỘNG HOA NGHIÊM

Lối đi vào động Hoa Nghiêm bằng phẵng, trước cửa động là ngọ môn cổ kính có ba chữ “Huyền Không Quan”. Bên cạnh có thờ tượng Quan Thế Âm lớn, dáng đứng uy nghiêm, tay cầm bình cam lộ. Bên cạnh vách đá là một tấm bia cổ được khắc vào năm 1700, với hàng chữ hán nhỏ ghi lại công lao của nhiều tín đồ cúng đường và lễ bái hiện nay đã nhòa đi theo năm tháng của thời gian, rất khó đọc.

THẠCH ĐỘNG HUYỀN KHÔNG

Đường vào thạch động Huyền Không rất tối khó đi và bước xuống hơn 20 bậc cấp nằm sâu xuống hơn 5m so với động Hoa Nghiêm. Trên vách đá khắc ba chữ lớn “Huyền Không Động”. Động hình tròn giống như chiếc chuông úp sấp xuống dần quí khách, nền động bằng phẳng được lát bằng gạch Kim Thành sạch sẽ, chu vi độ 25m, chiều cao từ đỉnh xuống nền động khoảng 16m. Vòm động tiếp xúc với không gian bên ngoài bằng 5 lỗ hổng mổ tự nhiên mang ánh sáng và không khí vào cho động. Ánh sáng xuyên qua màu xanh của lá cây từ đỉnh động chiếu xuống tạo nên vẽ đẹp lung linh và huyền ảo, động khô ráo, không ẩm ước và tối tăm như nhều hang động khác. Ngay dưới bậc cấp bước vào động, hai bên là 4 tượng của các vị Thiện và Ác cưỡi trên 4 con thú có diện mạo kỳ quái tượng trưng cho các loài quỷ dữ. Bốn tượng này người ta gọi là tứ Kim Cang hộ pháp, tức là bốn vị thần gác của động.

Trên cao là tượng Phật Thích Ca, cao 3m được làm vào năm 1960 bởi nghệ nhân nổi tiếng làng đá mỹ nghệ Non Nước tên là Nguyễn Chất. Phía dưới là bàn thờ Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát…

Bên phải là đền thờ bà Ngọc Phi hay còn gọi là bà Chúa Tiên, bà rất linh thiêng, là nơi để cho du khách cầu tài, cầu lộc. Tương truyền rằng bà là vợ của Ngọc Hoàng Thượng Đế hiện thân hạ giới chăm lo đời sống muôn dân. Hàng năm cứ vào ngày 2 đến ngày 8 tháng 3 âm lịch du khách hội tụ về đây cúng bái rất đông.

Bên trái là đền thờ bà Lôi Phi em bà Ngọc Phi hay còn gọi là bà Chúa Thượng Ngàn (cai quản núi rừng) cũng không kém phần linh thiêng là nơi du khách cầu nguyện sức khỏe thượng lộ bình an và vạn sự an lành.

Kế bên là ngôi đền nhỏ gọi là Trang Nghiêm Tự rất cổ kính, được xây dựng vào năm 1825. Trang Nghiêm Tự được chia thành ba gian, gian chính thờ tượng Phật Quan Âm, gian bên trái thờ ba vị Quan Thánh tức là Quan Công, Quan Bình và Quan Châu Xương là ba nhân vật trong truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa của Trung Hoa tượng trưng cho đức độ, trí dũng và lòng trung thành.

Đặc biệt gian bên trái thờ Ông Tơ Bà Nguyệt, nơi các đôi trai gái đến cầu duyên hoặc cầu sinh con khỏe mạnh, chóng lớn và khôi ngô, tuấn tú. Đây cũng là nơi cho những người hiếm muộn con đến cầu tự mong sinh được con.

Ẩn mình trên vách đá là chiết trống đá thiên tạo khi du khách úp lòng bàn tay vỗ vào trống, âm thanh sẽ phát ra vang dội cả vòm động. Gần Trang Nghiêm Tự có một hang nhỏ gọi là Thạch Nhủ Cốc, du khách phải rọi đèn mới nhìn thấy rõ, bên trong có hai mõm đá tròn thòng xuống trông giống như cặp nhủ hoa. Tương truyền rằng chiếc vú đá bên ngoài nhỏ nước đục, còn chiếc bên trong nhỏ nước trong. Khi vua Thành Thái đến đây làm lễ trai đàn cầu quốc thái dân an đã vô tình sờ tay vào chiếc bên ngoài, vì thế chiếc vú này hiện nay không còn chảy nước nữa. Lần bước theo sau ngôi đền nhỏ, nhìn lên quí khách sẽ thấy những nhiễu đá bám vào vách động tạo nên những hình thù hết sức kỳ thú, nơi thì giống như con hạc hay con đà điểu, hình hai đầu voi với chiếc vòi thả xuống, nơi giống con cò cùng chiếc mỏ dài nhọn ép vào vách động, nơi khác là một bàn tay cầm dâng cao lên nóc động…

ĐỘNG LINH NHAM

Động Linh Nham hay còn gọi là động Ngọc Hoàng Thượng Đế, là một hang động nằm trên cao, mặt xây về hướng tây.

Động trước kia thờ Phật Quan Âm, sau thờ Ngọc Hoàng nên còn có tên là động Ngọc Hoàng. Bên dưới có bàn thờ hai vị thần Nam Tào và Bắc Đẩu. Truyện dân gian kể lại rằng vào ngày 23/12 âm lịch hàng năm, mọi nhà cúng tiễn đưa ông Táo về trời, nhân dịp này cũng trình tấu lên Ngọc Hoàng Thượng Đế những thành quả cũng như những thất bại trong sinh hoạt làm ăn của con người dưới trần thế để Ngọc Hoàng xem xét độ trì giúp đỡ.

ĐỘNG VÂN THÔNG

Rời động Ngọc Hoàng quí khách sẽ qua cổng trời, đây là cổng đá tự nhiên, một sự sắp đặt rất kỳ lạ của tạo hóa tạo nên một con đường liên hoàn giữa chùa Tam Thai và chùa Linh Ứng. Đi giữa hai cổng trời, quí khách sẽ có cảm giác như đi trong lòng hòn non bộ khổng lồ. Giữa hai cổng trời là động Vân Thông, đây là hang động nằm trên vách núi cao từ miệng hang thông lên đỉnh trời khoảng 40m, phải qua những đoạn gồ ghề quanh co hiểm trở có những đoạn chỉ có một người chui qua, lên được đỉnh trời tuy có gây go mệt nhọc nhưng quí khách sẽ thỏa lòng ngắm trời biển bao la trong một không gian thoáng rộng.

Động Vân Thông còn gọi là đường lên trời, trước động thờ tượng Phật ADIĐA, phía sau tượng Phật là lối đi lên đỉnh trời. Đến Ngũ Hành Sơn, đa số du khách muốn được một lần lên trời và xuống âm phủ. Vì thế đường lên trời và hang Âm Phủ là điểm tham quan ấn tượng nhất đối với khách du lịch.

ĐỘNG THIÊN LONG

Động Thiên Long nằm trên vách núi cạnh cổng trời phía đông, hang động sâu thẳm rất nguy hiểm không có đường xuống mà quí khách chỉ đứng trên nhìn xuống có cảm giác rất sợ bị trược chân. Lòng hang vừa tối, vừa sáng nhìn xuống thấy sâu thăm thẳm cùng nhiều tảng đá lớn nhỏ nhấp nhô như miệng con Rồng nên có tên là Thiên Long. Đặc biệt hang ăn thông với hang Gió trong động Tàng Chơn sau chùa Linh Ứng. Rời động Thiên Long đến hang gió đông, quí khách sẽ có cảm giác mát lạnh và trong lành từ biển Non Nước thổi vào. Từ điểm này, ta có thể nhìn rõ được Tháp Xá Lợi và một phần bờ biển du lịch Non Nước.

ĐỘNG TÀNG CHƠN

Sau lưng chùa Linh Ứng là động Tàng Chơn. Tàng Chơn có ý nghĩa là chứa đựng tất cả chân lý của vũ trụ. Trước động trên vách đá có ghi 3 chữ “Tàng Chơn Động”. Lòng động như một thung lũng nhỏ dài khoảng 10m, rộng khoảng 7m thoáng đảng nhờ thông lên trời qua của hang “Thiên Long Cốc”. Trong động có 5 hang nhỏ gồm: hang Tam Thanh, hang Gió, hang Chiêm Thành, hang Ráy và động Bàn Cờ, giữa động có miếu thờ Thái Thượng Lão Quân, bên phải thờ Bát Bộ Kim Cương và bên trái thờ Thượng Chiêm Thành gọi là bà Ngọc Phi.

Động Tam Thanh ngày xưa thờ 3 vị thánh đó là: Thượng Thanh, Trung Thanh và Hạ Thanh, động cũng được phát hiện vào đời Lê, niên hiệu Cảnh Hưng, do thiền sư Bửu Đài một danh sư của Phật Giáo Việt Nam phát hiện. Ngày nay, tượng các vị thánh không còn nữa và được thay vào đó là tượng Phật Thích Ca ngồi, cao to, phía sau là tượng Phật nằm. Bên phải hang Tam Thanh là hang gió và bên trái là hang Chiêm Thành. Hang Chiêm Thành có hình bán nguyệt, rộng 3m. Động như một đường hầm tối, ghồ ghề, đỉnh động thông với không gian bên ngoài qua một vài khe đá hở nhỏ. Hang có 2 tác phẩm điêu khắc 2 vị hộ pháp bằng đá sa thạch (dài 0.9m) theo phong cách nghệ thuật Đông Đương của người Chiêm Thành khoảng nữa thế kỷ thứ 10, tượng được chạm trổ khá công phu trên nền đá sa thạch (Trà Kiệu) được đặt trên một chiếc bệ chạm hình hoa sen cách điệu. Điều này chứng tỏ rằng tại Ngũ Hành Sơn người Chăm đã có mặt tại đây và thờ Phật từ rất sớm.

Ngoài ra quí khách có thể tham quan hang Ráy, hang Bàn Cờ để thấy hết được vẽ đẹp kỳ diệu của một hang động trong quần thể ngọn Thủy Sơn.

ĐỘNG ÂM PHỦ

Động Âm Phủ là một hang động nằm dưới chân núi ngọn Thủy Sơn, đây là một trong những hang động lớn và đẹp trong quần thể Ngũ Hành Sơn. Động nằm ở độ cao, đường vào qua những khoảng hẹp tối, bên trong lòng động rất rộng, thoáng gấp 7 lần động Huyền Không. Vòm hang động cao có những lỗ thông lên trời, xung quanh vách động chia nhiều phân khu tự nhiên. Bên phải phía trong vách động có một hang thông sâu xuống 5m, phía dưới sâu có những hang động nhỏ. Nhiệt độ trong động luôn luôn thấp, vào đây cảm giác lúc nào cũng thấy mát mẽ dễ chịu.

Tương truyền rằng vua Minh Mạng khi vi hành Ngũ Hành Sơn đã cho lính cầm đuốc xuống thám hiểm lòng hang nhưng lần lược cả 12 bó đuốc đều tắt nên không thể xuống được. Về sau, nhà vua cho lấy một quả bưởi ghi chữ rồi thả vào hang, hôm sau quả bưởi được tìm thấy trên bờ biển Non Nước, điều này chứng tỏ rằng hang được ăn thông ra biển.

Hang Âm Phủ là một hang động rất được nhiều du khách muốn vào tham quan. Đây là nơi Diêm Vương xử tội với các truyền thuyết dân gian dựa theo phật tích như Mục Kiều Liên tìm mẹ hoặc còn lại một số di tích Chàm rất có giá trị vào thế kỷ thứ 10.

Leave a comment