Lịch sử
Chùa Ngọc Hoàng vốn là một ngôi điện thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, nên được đặt tên là Ngọc Hoàng điện, do một người Quảng Đông (Trung Quốc) tên là Lưu Minh pháp danh Đạo Nguyên khởi xướng thành lập. Vương Hồng Sển cho biết, Lưu Đạo Nguyên là người theo đạo Minh Sư, ăn chay trường, xuất tiền của lập chùa, vừa làm nơi thờ phụng, vừa làm hội kín lập chí lật đổ nhà Mãn Thanh.
Về thời gian thành lập chùa, hiện có nhiều ý kiến khác nhau. Theo Vương Hồng Sển, chùa được khởi công năm 1905, sang năm 1906 thì hoàn thành. Theo Võ Văn Tường thì chùa được thành lập năm 1900. Trên trang web Cinet lại có người cho rằng chùa bắt đầu được xây dựng từ năm 1892, đến năm 1900 hoàn thành, nhưng mãi đến năm 1906 mới làm lễ khánh thành.
Lúc mới thành lập, chùa Ngọc Hoàng là một ngôi chùa theo đạo Minh Sư, tức thuộc tổ chức của những người Trung Quốc “bài Mãn phục Minh”. Ở Trung Quốc, đạo Minh Sư phát triển khá mạnh và đương nhiên luôn bị triều đình Mãn Thanh đàn áp. Sau sự kiện Thái Bình Thiên Quốc (1850-1864), các tổ chức “bài Mãn phục Minh” bị truy bức gắt gao nên một số tín đồ Minh sư phải theo dòng người Hoa trốn ra nước ngoài. Đạo Minh Sư được truyền vào Việt Nam khoảng thời Tự Đức. Từ đó nhiều ngôi chùa Minh Sư của người Hoa được thành lập ở Hà Tiên, Quy Nhơn, Sài Gòn, trong đó có chùa Ngọc Hoàng.
Đạo Minh Sư đề cao thuyết Di Lặc cứu thế, giáo lý của nó bắt nguồn từ tông phái Phật đường. Phật đường là tông phái thờ Phật tại gia, xuất hiện vào thời nhà Đường ở Trung Quốc, được tách ra từ một chi phái của Thiền tông, sau đó dung nạp thêm Đạo giáo và Nho giáo. Vì vậy chùa Minh Sư là một hiện tượng thú vị của tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”. Đối tượng thờ tự, cách bày trí và hệ thống hoành phi, đối liên của chùa Ngọc Hoàng cũng thể hiện rất rõ tư tưởng này.
Kiến trúc
Vì vốn là chùa của người Hoa, nên dù trải qua nhiều lần trung tu, kiến trúc chùa Ngọc Hoàng vẫn mang đậm nét Trung Hoa với các mô-típ trang trí rực rỡ. Nhiều linh vật được chạm khắc tinh xảo. Chùa được xây bằng gạch, lợp ngói âm dương, bờ nóc và các góc mái được trang trí bằng nhiều tượng gốm màu. Chùa hiện còn lưu giữ nhiều tác phẩm nghệ thuật cổ đặc sắc như tranh thờ, tượng thờ, bao lam, hương án, hoành phi, đối liên… bằng các chất liệu gỗ, gốm, giấy bồi.
Từ ngoài vào, trên nóc cổng tam quan gắn tượng hai con rồng uốn lượn theo mô-típ lưỡng long tranh châu. Khuôn viên chùa nối liền cổng tam quan vào bái đường. Trong khuôn viên có miếu thờ thần Hộ pháp, trên nóc miếu có trang trí hình lân ngậm ngọc.
Toàn bộ kiến trúc thờ tự của chùa Ngọc Hoàng chia thành ba gian, mỗi gian là một tác phẩm kiến trúc mỹ thuật độc đáo mang đậm nét cổ xưa. Gian giữa lớn nhất gồm tiền điện, trung điện và chánh điện. Vào các ngày có lễ cúng, không gian ngay sau cổng chính dẫn vào gian giữa được dùng làm nơi tụng kinh và bày mâm cỗ. Gian bên trái gồm ba điện thờ: Điện thứ nhất thờ Nhị vị Song Án, Mã tướng quân, Thành Hoàng Lỗ Ban và Thái Tuế; Điện thứ hai thờ Thập điện Diêm Vương với 10 bức chạm gỗ tái hiện 10 cửa địa ngục, phân bố đều mỗi bên 5 bức; Điện thứ ba thờ Ông Tơ Bà Nguyệt, Kim Hoa Thánh Mẫu (vị nữ thần cai quản việc sinh nở, theo tín ngưỡng dân gian) cùng 12 bà mụ (mỗi vị thần lo một việc như nặn đầu, nặn tay, nặn chân, nặn mắt… cho việc tượng hình một đứa trẻ; dạy trẻ tập nói, tập đi), 13 đức thầy (lo việc dạy nghề nghiệp cho trẻ khi lớn lên và dạy dỗ cho trẻ nên người) dành cho những người hiếm muộn đến để cầu tự. Gian bên phải gồm nhà nghỉ và điện thờ Phật Bà cùng bài vị những người quá vãng. Trong điện thờ Phật Bà có cầu thang gỗ dẫn lên điện Quán Âm. Ở đây ngoài thờ Quán Âm Bồ Tát còn thờ Đạt Ma Tổ Sư, Quan Thánh Đế Quân, thần Hộ pháp và tổ Lưu Minh. Phía trên ban thờ chính thờ Quán Âm Bồ Tát có bức hoành “Tiên Phật Nho tông” (tạo năm 1905) thể hiện rõ sự dung hợp tư tưởng Tam giáo.
Tiền điện thờ thần Thổ Địa bên trái và thần Môn Quan bên phải. Trung điện thờ Phật Dược Sư, tượng Phật duy nhất bằng gỗ trần đặt trong lồng kính, hai bên có tượng Thanh Long Đại Tướng và Phục Hổ Đại Tướng làm bằng giấy bồi to bằng người thật.
Ban thờ chính trong chánh điện thờ tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế, có thiên binh thiên tướng đứng hầu. Tượng Ngọc Hoàng làm bằng giấy bồi, cao hơn 3m ngồi trên bệ cao gần 1m, đầu đội mũ bình thiên, tay cầm lịnh tiễn, là pho tượng ngồi lớn nhất trong chùa, tượng được sơn son thếp vàng, kỹ thuật tinh xảo. Xung quanh còn có nhiều tượng nhỏ hơn, gồm Nam Tào, Bắc Đẩu, Hoa Đà Tiên Sư, Tề Thiên Đại Thánh, Quan Thánh Đế Quân, thần Nhật Nguyệt, Long Mẫu Nương Nương, Tứ Đại Kim Quang, Thái Ất Chân Nhân…
Bên trái ban thờ Ngọc Hoàng là ban thờ Huyền Thiên Bắc Đế (một vị thần hoá thân của Ngọc Hoàng Thượng Đế) trong tư thế ngồi, chân phải đạp lên con rùa, chân trái đạp lên con rắn, tượng trưng sự trấn áp yêu quái, tà ma. Hai bên tượng Bắc Đế có hai vị thần, vị bên phải cầm kiếm, vị bên trái cầm pháp ấn, thể hiện rõ tư tưởng Đạo giáo.
Bên phải ban thờ Ngọc Hoàng là cung Thuỷ Nguyệt thờ Phật Chuẩn Đề. Phật Chuẩn Đề được đưa vào thờ ở thần điện của Đạo giáo là do quan niệm Phật Chuẩn Đề ở cõi trời, chung một cung Thuỷ Nguyệt với Nguyệt Thành Thuỷ Môn Long Mẫu Nương Nương. Chúng ta thấy có sự hoà hợp tinh tế giữa Đạo giáo và Phật giáo.
Ngoài ra, chùa Ngọc Hoàng còn phối thờ rất nhiều đối tượng thờ tự của Phật giáo và tín ngưỡng dân gian của người Hoa như Phật Thích Ca, Đại Thế Chí Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, thần Thiên Lôi, Tư Mạng Sứ quân, Hoạt vô thường, Dẫn Hồn tiên, thần Hà Bá, Văn Xương, Lã Tổ… Tổng cộng khoảng 300 tượng thờ, các pho tượng đều được làm bằng gỗ, điêu khắc tinh xảo.
Phía sau chùa Ngọc Hoàng còn có miếu thờ Ông Đá. Tương truyền, trước khi chùa Ngọc Hoàng được thành lập, tại vị trí này có một ngôi miếu cổ thờ đá của người Khmer. Sau khi xây dựng chùa Ngọc Hoàng, ngôi miếu cổ này được cải tạo thành miếu thờ Ông Đá như hiện nay. Trong miếu thờ viên đá hình chữ nhật dựng đứng. Đây là viên đá lấy từ núi Thái Sơn tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc) sang thay cho viên đá cũ. Trước đá có lư hương, bên phải có đá Thanh long, bên trái có đá Bạch hổ. Tục thờ Ông Đá xuất phát từ truyền thuyết phong thần nhưng cũng phù hợp với tín ngưỡng dân gian của các cư dân bản địa Việt, Khmer.
Các chi tiết văn hóa khác
Lễ hội lớn nhất của chùa là lễ vía Ngọc Hoàng diễn ra vào ngày mồng 9 tháng giêng âm lịch hàng năm.
Là một trong những ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng về cầu con cái, mỗi năm có rất nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn đến thành tâm cầu xin con cái ở đền thờ Kim Hoa Thánh Mẫu trong chùa. Tương truyền về Kim Hoa Thánh Mẫu như sau: “Chuyện được lưu truyền rằng… Kim Hoa Thánh Mẫu (thần coi việc sinh nở) cùng 12 bà mụ làm việc nắn hình người(mỗi bên 6 bà với tư thế khác nhau, mỗi bà lo một việc: nắn tay, nắn chân, nắn đầu, dạy trẻ tập đi, tập nói,….) cho bé từ lúc thai sang do vậy tục thờ cúng 12 Mụ bà – Mẹ Sang. Thế nên người dân lập đền thờ và đến đây cầu “mẹ tròn con vuông” khi có người thân đang mang thai. Mong muốn đứa bé chào đời được may mắn, bình an, hạnh phúc là tâm nguyện của nhiều người khi đến đây cầu nguyện. Tới đây họ sẽ thả một cặp rùa ghi tên tuổi của cả hai để cầu con. Quy trình cầu con ở chùa sẽ được hướng dẫn cụ thể theo các bước sau: Khách đến cầu con đều được phát một sợi chỉ màu đỏ, nếu cầu con trai thì khấn rồi treo sợi chỉ vào bức tượng bên trái, nếu cầu con gái thì khấn rồi treo vào bức tượng bên phải. Sau đó, xoa bụng bà mụ 3 cái rồi xoa vào bụng mình 3 cái. Tiếp theo xoa vào bụng tượng trẻ con dưới chân bà mụ 3 cái rồi lại xoa vào bụng mình 3 cái là hoàn tất quy trình.
Việc cầu tình duyên tại nơi đây có lẽ cũng không hề kém gì so với việc cầu con. Quy trình cầu tình duyên cũng rất đơn giản: trước tiên chỉ cần thắp hương thật thành ý trước tượng ông Tơ bà Nguyệt. Sau đó khấn tên mình và tên “người ấy” hoặc cầu mong gặp được một nửa kia của mình. Cuối cùng là sờ tay vào tượng và mong ông, bà chứng giám cho mình.
Ngoài các mục đích trên thì người dân cũng tìm đến đây để cầu mong sức khỏe, tài lộc, thành công và may mắn trong cuộc sống
