Khu sinh quyển Vàm Sát Cần Giờ

Khu sinh quyền Cần Giờ giúp bảo vệ đất và các khu vực dân cư khỏi bão lũ, xói mòn; tạo nơi sinh sống của các loài động vật hoang dã, cung cấp các giá trị sinh thái như: giải phóng O2, hấp thụ CO2 và do vậy góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu; cải tạo đất, chống xói mòn, lọc nước…

Giới thiệu chung

  •  Rừng ngập mặn Cần Giờ là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành ở hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn nằm ở cửa ngõ Đông Nam TP. Hồ Chí Minh.
  • Rừng ngập mặn Cần Giờ có diện tích 75.740 ha, trong đó: vùng lõi 4.721 ha, vùng đệm 41.139 ha và vùng chuyển tiếp 29.880 ha.
  • Với hệ động thực vật đa dạng, độc đáo, đặc trưng, Rừng ngập mặn Cần Giờ đóng vai trò quan trọng trong phòng chống thiên tai, là lá phổi xanh điều hòa thời tiết và cũng là nơi cung cấp nhiều loài thủy hải sản quý giá của khu vực Tây Nam bộ.
  • Cây sác là loài cây ngập mặn sống cùng với các loại cây khác, như sú, vẹt, đước, ô rô, chà là tạo thành một tập đoàn cây ngập mặn. Tập đoàn cây tiên phong lấn biển này thích hợp với những vùng bùn lỏng chưa ổn định ở các bãi bồi cửa sông ven biển. Cây mắm, cây đước đi trước. Khi đất bùn được cố định, nước nhạt dần, cây dừa nước phát triển sau cùng trong đoàn quân lấn biển.
  • Rừng ngập mặn Cần Giờ có vị trí địa lý rất đặc biệt, với hệ sinh thái đất ngập nước ven biển, rừng ngập mặn Cần Giờ vừa bị tác động của sông và biển. Hàng năm, Rừng ngập mặn Cần Giờ nhận một lượng lớn phù sa từ sông Đồng Nai, cùng với ảnh hưởng của vùng biển kế cận và các đợt thủy triều làm cho hệ động, thực vật nơi đây rất phong phú và đa dạng. Các loại cây trong rừng trở thành nguồn cung cấp thức ăn và nơi trú ngụ cho rất nhiều loài thủy sinh, cá và các động vật có xương sống khác.
  • Rừng ngập mặn Cần Giờ còn là một điểm du lịch sinh thái, giúp cho người dân địa phương có nguồn thu nhập đáng kể. Rừng ngập mặn Cần Giờ còn là “phòng thí nghiệm tự nhiên” phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái đặc biệt này.

Lịch sử vùng đất

Vào thế kỷ 17, khi những cư dân Việt đầu tiên vào khai khẩn vùng đất mới Nam Bộ, Cần Giờ có đến 42 ngàn ha rừng nguyên sinh mọc trên hàng trăm gò đất nửa chìm nửa nổi, hoặc chỉ cao hơn mức nước biển một vài mét và hơn 1/4 diện tích vùng rừng Sác là sông rạch.

Thế giới động vật rừng Sác thời đó thật khó kiểm đếm hết. Cho đến những năm kháng chiến chống Pháp, ngoài hàng trăm loài chim nước và động vật thủy sinh như tôm, cua, cá, lưỡng cư, nơi đây còn có các loài hổ, khỉ độc, rái nước. Những lúc triều lên, hàng trăm rái nước tập trung trên gò nhỏ. Nhiều người đã chứng kiến những cuộc giao tranh quyết liệt giữa heo rừng và trăn nước. Loài cá sấu có nhiều vô kể và vẫn được dân địa phương gọi là chúa nước.

Khi xảy ra chiến tranh, đây là tuyến giao thông huyết mạch. Chính vì thế bom đạn, hóa chất độc hại đã tàn phá biến rừng ngập mặn Cần Giờ thành vùng đất chết, không có sự sống. Cộng với nạn phá rừng bừa bãi nên các cánh rừng bị hủy diệt hoàn toàn biến nhiều vùng thành các bãi hoang, trảng trống, cây lùm bụi. Các loại động vật RNM như chim, tôm, cá cũng biến mất.

 Năm 1985, nhân dân Cần Giờ và bộ đội quyết tâm trồng lại rừng. Hàng chục ha rừng Sác hồi sinh. Có đến 60 loài thực vật xuất hiện trở lại, nhiều nhất là cây đước. Hàng chục loài chim nước bay về trú chân, trong đó có bồ nông, cò quắm, sếu, diệc, hồng hộc, le le.

 Sau 30 năm khôi phục, rừng Sác giờ đây được gọi là RNM Cần Giờ đã phục hồi được trên 30.491 ha rừng, biến khu đất hoang hóa trơ trọi năm xưa thành cánh rừng bạt ngàn xanh tốt, tạo nên cảnh quan tươi đẹp và môi trường sống thuận lợi cho nhiều loài động vật phát triển.

Ngày 21/01/2000, khu rừng ngập mặn Cần Giờ đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam, thuộc hệ thống những khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ

Điều kiện môi trường của rừng ngập mặn Cần Giờ vô cùng đặc biệt. Hệ sinh thái trung gian giữa hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái thủy vực, giữa hệ sinh thái nước mặn và nước ngọt. Hiện nay, hệ sinh thái nơi đây rất phong phú và đa dạng với nhiều loại động thực vật trên cạn, dưới nước. Cụ thể:

Hệ thực vật

Có hơn 150 loài thực vật, loài vât đặc trưng là bần trắng, mầm trắng, đước đôi, bần chua, ô rô…

Khảo sát năm 2007 ghi nhận, rừng ngập mặn Cần Giờ hiện có 220 loài thực vật bậc cao, 155 chi, 60 họ. Trong đó các họ có nhiều loài nhất như:

  • Họ Đước (Rhizophoraceae) 13 loài.
  • Họ Đậu (Fabaceae) 29 loài.
  • Họ Hòa thảo (Poaceae) 20 loài.
  • Họ Cói (Cyperaceae) 20 loài.
  • Họ thầu dầu (Euphorbiaceae) 9 loài.
  • Họ Cúc (Asteraceae) 8 loài.

Hệ động vật

  • Có trên 130 loài khu hệ cá.
  • Trên 700 loài hệ động vật thủy sinh không có xương sống.
  • Khi hệ động động có xương sống có 31 loài bò sát, 9 loài lưỡng cư và 4 loài động vật có vú. Đặc biệt, có đến 11 loài bò sát nằm trong sách đỏ Việt Nam cần bảo tồn như kỳ đã nước (varanus salvator), tắc kè (gekko gekko), rắn hổ chúa (ophiophagus hannah), cá sấu hoa cà (crocodylus porosus), răn gấm (python reticulatus)…
  • Có gần 130 loài thuộc 47 họ, 17 bộ thuộc khu hệ chim. Bao gồm: 79 loài chim không phải chim nước và 51 loài chim nước.

Vai trò rừng ngập mặn Cần Giờ

Rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành “lá phổi” đồng thời là “quả thận” có chức năng làm sạch không khí và nước thải từ các thành phố công nghiệp trong thượng nguồn sông Ðồng Nai – Sài Gòn đổ ra biển Ðông.

Làm sạch không khí, nước thải

Từ một “vùng đất chết” trong chiến tranh, hiện nay rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành “lá phổi xanh”, đồng thời là “quả thận” của TPHCM. Khu rừng đóng vai trò làm sạch không khí, nước thải từ thành phố, khu sản xuất công nghiệp. Đồng thời trả lại môi trường trong lành, giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho TPHCM và các tỉnh lân cận.

Phòng ngừa bão lũ

Rừng ngập mặn Cần Giờ giúp hạn chế các thiệt hại do bão lũ. Đây cũng là cư trú, sinh trưởng và cung cấp nguồn thức ăn cho các loài động thực vật.

Cung cấp thủy hải sản

Đây là khu rừng ngập mặn có nguồn thủy hải sản vô cùng phong phú. Gồm nhiều loại tôm cá có giá trị kinh tế cao như tôm sú, tôm thẻ, cá mũ, cá chẽm, sò huyết…

Cung cấp thức ăn cho động vật thủy sinh

Lá cây, những bộ phận khác của cây khi rụng xuống nước phân hủy thành mùn bã hữu cơ trở thành nguồn thức ăn phong phú của các loài động vật thủy sinh.

Từ năm 1993 đến nay, nghề nuôi tôm sú, nghêu sò là kết quả của việc phục hồi rừng ngập mặn Cần Giờ.

Nguyên liệu thuốc chữa bệnh

Hệ thực vật trong rừng ngập mặn Cần Giờ phong phú như ô rô, cây lức, cây xu… còn có công dụng làm thuốc chữa trị nhiều loại bệnh. Trong chiến tranh, bộ độ thường dùng những loại cây rừng này để trị bệnh.

Cung cấp nhiên liệu

  • Cây rừng có thể sử dụng để làm củi đốt, làm bột giấy, ván ghép, ván răm. Hoặc vỏ vây được sử dụng để sản xuất thuốc nhuộm vải, keo dán.
  • Lá mắm còn được sử dụng để làm thức ăn cho gia súc.

Ngăn ngừa biến đổi khí hậu

Rừng ngập mặn Cần Giờ đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa biến đổi khí hậu.

Giảm đến 50% năng lượng tác động từ sóng biển.

Ngăn chặn nước biển dâng cao giúp bảo vệ cơ sở hạ tầng và người dân ở ven biển. Giảm độ cao của sóng biển khi đi qua rừng ngập mặn Cần Giờ. Mức biến đổi này rất lớn lên đến 80% tức từ 1,4m xuống chỉ còn 0,3m. Nhờ vậy mà bờ đầm, vùng đất văn bờ không bị xâm lấn, xói lở.

Phát triển nghành nuôi trồng thủy sản

Sau khu được khôi phục, sản lượng thủy hải sản được khai thắc ở rừng ngập mặn Cần Giờ ngày càng cao. Nghề nuôi trồng tôm sú, nghêu, sò cũng phát triển nhanh hơn. Nhờ vậy góp phần không nhỏ vào việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân.

Các điểm tham quan

Khu du lịch sinh thái Vàm Sát

Tràm chim

Tràm chim Vàm Sát là nơi sinh trưởng của các loài chim hoang dã của vùng Nam bộ. Đây cũng là vùng đệm của khu dự trữ sinh quyển thế giới. Vì thế các loài chim ở đây được bảo tồn nguyên vẹn. Có thể tìm thấy những loài chim quý hiếm như Giang sen, Còng cọc, Diệc…

Sân chim tự nhiên vô cùng rộng lớn với 30 loài chim trong đó có một số loài điển hình như: Cò trắng, vạc, cồng cộc, bìm bịp, nhạn biển, diệc, giang sen… Đứng từ xa bạn có thể nghe thấy sư ồn ào náo nhiệt phát ra từ vườn chim, đủ các âm thanh từ đàn cò, đàn vạc, đàn cốc phát ra làm bất kỳ ai cũng to mò muốn đến tận mắt để xem. Sân chim được quy hoạch tổng thể khá rộng, vùng trung tâm lên đến gần 200 ha, vùng ngoài khoảng 500 ha.

Tràm chim chỉ mở cửa hoạt động từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm. Nguyên do đây là mùa các loại chim tụ về làm tổ, sinh sản. Còn ngoài thời gian này, các loại chim di trú, nên số lượng còn lại rất ít. Tràm chim phải đóng cửa để bảo toàn lượng chim còn lại không bị khuấy động.

Thực tế tổ của chúng không đẹp như trong sách giáo khoa. Nhưng có một điều là tổ chúng rất chắc chắn. Những chiếc tổ ấy đủ để chim mẹ nằm cùng bầy chim non cho đến khi chúng biết bay. Còn những con chim bố sẽ đứng ở các nhánh cây gần đó quan sát và bảo vệ “gia đình mình”. Khi những con chim non trưởng thành, chim mẹ sẽ đẩy chúng ra khỏi tổ. Điều kỳ diệu của tạo hóa là chưa kịp chạm đất, những con chim con sẽ biết xoải cánh bay.  

Người dân xã Lý Nhơn kể rằng, không ai biết sân chim này có tự bao giờ. Hồi xưa, chim ở đây nhiều vô kể. Thời chiến tranh, bom đạn của chiến tranh phá hủy gần hết cả khu rừng khiến chim cò bỏ đi gần hết. Phải đến những năm 90 của thế kỷ trước, sân chim mới được phục hồi và dần phát triển đông đúc như bây giờ.

Đặc tính của các loại chim là bay đi kiếm ăn lúc 6 giờ sáng, và trở về tổ vào lúc 17 giờ chiều. Cò ruồi và điên điển được xem là 2 loài thông minh bậc nhất rừng, đến mùa sinh sản (khoảng tháng 5-6) chúng thường kéo về rừng sớm hơn các loài khác và chiếm giữ những khu chà là đầy gai nhọn làm tổ. Mục đích của chúng là tránh mối nguy từ những “kẻ săn mồi” nguy hiểm vào dạng bậc nhất ở rừng, đó là rắn, khỉ, kì đà…

Khác với các loài khác, ban ngày vạc cứ quang quác lại hay “ăn hiếp” bạn bè rồi chờ đến đêm mới bắt đầu rủ nhau bay đi kiếm mồi

4 loại chim quý đang sống tại Tràm chim Vàm Sát:

Chim Giang Sen: Là loài chim quý hiếm nằm trong sách đỏ, được tìm thấy tại Vàm Sát. Chúng còn được gọi là “chim báo bão”. Đây là loài chim thuộc họ Hạc, tìm mồi theo bầy ở các vùng nước nông dọc theo sông và hồ, làm tổ theo đàn trên cây. Chúng không di cư và chỉ di chuyển cự ly ngắn ở trong phạm vi phân bố để tìm kiếm thức ăn và để sinh sản.

Chim Giang Sen – Painted Stork

Chim Già Đẩy: chóp đầu có nhạt màu và phần trên bộ lông trên màu tối đồng nhất, có vẻ hầu như tất cả màu đen. Đầu và cổ gần như hói có ít lông rải rác. Già đẫy thường sống ở các con sông và hồ lớn có nhiều cây. Loài này phân bố từ Ấn Độ đến lục địa Đông Nam Á đến đảo Java. Loài này được xếp trong Danh mục sách đỏ động vật Việt Nam và thuộc nhóm IB.

Chim Già Đẩy

Chim còng cọc: Là loài chim nước (còn gọi là chim cốc), thường sống thành đàn. Và cũng có khi sống lẻ loi vì môi trường không mấy thích hợp như đồng hẹp, cá ít, phải phân tán tìm mồi. Chim còng cọc săn mồi bằng cách lặn trong nước và đuổi bắt con mồi rất tinh tường. Biệt tài của chúng là khi lặn, mắt chúng có 1 lớp màng trắng che lại bảo vệ. Nhưng chúng vẫn thấy con mồi và mọi vật. Khi cổ diều chúng đã đầy cá, chim còng cọc sẽ bay lên cây để phơi lông. Hoặc bay về tổ để mớm mồi cho chim con.

Chim Cồng Cộc

Chim Diệc: Cũng là loài chim săn mồi vùng sông nước. Năm 2005, một nhà khoa học người Canada là tiến sĩ Louis Lefebvre thông báo là đã tạo ra phương pháp đo chỉ số IQ của các loài động vật biết bay, dựa theo khả năng sáng tạo của chúng trong các môi trường kiếm ăn. Và theo phương pháp của ông, thì loài diệc được đặt trong số các loài chim thông minh nhất trong cách kiếm ăn.

Chim Diệc

Khu cá sấu

Số lượng cá sấu được bảo tồn trong khu đầm khoảng 40 con, khi đi câu bạn sẽ đứng trên một chiếc thuyền được bọc lưới thép B40 cao ngang mặt, độ an toàn rất cao, thuyền luôn rộng làm bằng chất liệu bền chắc không lo bị lật hoặc thủng thuyền.

Khu bảo tồn dơi nghệ

Trong chuỗi thức ăn tự nhiên Dơi có vai trò khá quan trọng, chúng bắt và ăn côn trùng, giúp hoa thụ phấn bằng cách hút mật và phát tán phấn hoa.

Khi vào đầm Dơi tham quan, bạn luôn phải chú ý giữ yên lặng không làm ồn ào, vì ban ngày là lúc đàn Dơi ngủ lấy lại sức sau một đêm săn mồi mệt mỏi. Dơi ngủ theo đàn, treo ngược mình trên cành cây, Dơi mẹ ôm Dơi con ngủ, cả bầy đàn bám sát nhau trên một nhánh cây vừa đẻ giữ ấm vừa để canh gác cho nhau, báo động cho nhau khi gặp nguy hiểm.

Rừng Đước

Loài này thích nghi tốt môi trường đất nhiễm mặn và có tác dụng tốt chống biển xâm thực. Bộ rễ của Đước rất vững chắc gồm một rễ cọc và các rễ phụ bao quanh có tác dụng giữ đất, bám sâu lòng đất hút dinh dưỡng. Tại Vàm Sát có hai loài đước: Đước đôi và đước 4 bông, chúng có vai trò quan trọng trong môi sinh ở đây, góp phần cải tạo đất, phục hồi hệ thực vật và cung cấp nguồn thức ăn cho một số loài khác.

Để một cây Đước đạt độ cao trung bình từ 20 – 25 m cần khoảng 20 năm. Đước đã trở thành biểu tượng của các khu rừng ngập mặt ở Cần Giờ. Ngoài ra, còn một số loài cây chịu mặn khác được trồng ở đây như: Cây mắm, cây chà là …

Cây mắm

Khu sinh thái Cần Giờ

Đảo khỉ là một trong những điểm đến hấp dẫn du khách khi đến với Cần Giờ. Khỉ nơi đây có đến hơn 1.000 con với nhiều loài khác nhau nhưng rất dạn dĩ và tinh khôn. Bạn có thể đến gần bắt tay hoặc cho chúng ăn và tranh thủ chụp những bức ảnh độc đáo làm kỷ niệm. Nhưng bạn phải lưu ý bảo vệ vật dụng tư trang cẩn thận vì có một số chú khỉ nghịch ngợm hay giựt đồ của du khách.

Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ

Bãi biển Cần Giờ

Leave a comment