Copy bên anh Dương Quốc Chính thôi, lưu lại ở đây anh em dễ tìm
CUỘC CHIẾN TAI HẠI
Đây là cuộc chiến vô cùng tai hại. Bởi nếu không có nó thì cũng sẽ không có cuộc chiến Việt – Mỹ. Lâu nay đa số người Việt chúng ta chỉ được biết thông tin 1 chiều về nguyên nhân cuộc chiến, đại khái là “Chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới. Bởi vì chúng muốn cướp nước ta 1 lần nữa”. Thực tế thì bên nào nhân nhượng và bên nào lấn tới? Muốn đánh giá được thì phải có thông tin từ cả 2 phía. Tiếc là thông tin từ phía Pháp mà được dịch ra tiếng Việt là rất hiếm, cũng không có nhiều người được tiếp cận. Mình xin giới thiệu 1 trong những nguồn tin đáng quý vì hầu hết thông tin được dịch từ những bức điện, thư từ, công hàm được phía Pháp lưu trữ, được diễn giải khá chi tiết. Mọi người có thể xem các bức ảnh đính kèm. Mình chỉ tóm tắt và nêu thêm bối cảnh của sự việc. Đánh giá thế nào là quyền và góc nhìn của mỗi người.
Đây coi như phần tiếp theo của stt mình đã viết về nhân vật D’Argenlieu người có tinh thần quốc gia (Pháp) cao độ, luôn tìm cách giữ lại thuộc địa. Đầu tiên là việc thành lập CH Nam Kỳ. Sau đó là sự thất bại của Hội nghị Fontainebleau, thay vào đó là 1 bản tạm ước ký ngày 14/9/1946 có nội dung đại khái là: Hai bên không tuyên truyền và hành động bất thân thiện, không trả thù, bỏ tù những người đã từng cộng tác với phía bên kia. VNDCCH chấp nhận sẽ bảo vệ quyền lợi kinh tế, văn hoá cho phía Pháp. Pháp sẽ chấp nhận cho Nam Kỳ được hưởng quy chế dân chủ. Hai bên sẽ ký kết HĐ chính thức vào tháng 1/1947 và vài điều khoản khác nữa. Hội nghị Fontainebleau đổ vỡ cơ bản là do phía VM đòi phải có độc lập hoàn toàn (trong khi HĐ Sơ bộ thì VNDCCH chỉ tự do trong LB Đông Dương), Pháp không chấp nhận, chỉ cho phép VNDCCH tự trị trong LB Đông Dương thuộc LH Pháp. Đó là nguyên nhân chính và sâu xa của cuộc chiến. Dưới đây là các vấn đề “kỹ thuật” để dẫn đến chiến tranh.
VM có tổ chức mua vũ khí từ TQ (Tàu Tưởng) bằng cách đem bán lương thực và nhu yếu phẩm, thông qua ngả Hải Phòng và Lạng Sơn, nhằm tăng sức chiến đấu cho quân đội. Quân Pháp biết được điều đó nên yêu cầu phải kiểm soát thuế quan ở 2 nơi này. Dĩ nhiên VM không chấp nhận và cho là Pháp gây hấn. VM tấn công vào tàu Pháp đang tuần tra bắt được 1 tàu TQ buôn lậu. Người Pháp bị tấn công ở phố người Hoa và chướng ngại vật được dựng lên. Quân Pháp phản công bằng pháo kích vào TP, chiếm Sở thuế quan, nhà hát, bưu điện và ra tối hậu thư yêu cầu quân đội VM phải rút khỏi HP. Phía VM phản công và lấy được bức điện của Valluy chỉ thị cho quân Pháp ở miền Bắc. Vì vậy, VM nắm được ý đồ cơ bản của Pháp nên lập tức tổng động viên quân đội, lập các chiến luỹ để đề phòng quân Pháp tấn công ở khắp dọc đường HN-HP.
Ở Lạng Sơn thì lính Pháp cũng bị tấn công khi đi tìm mộ quân Pháp trong chiến tranh với Nhật. Pháp lập tức phản công chiếm lấy Lạng Sơn.
Tướng Valluy, tư lệnh quân Pháp ở Đông Dương, nhận thấy đây là lý do tốt để có cớ cho chiến tranh nên chỉ thị cho tướng Morliere, chỉ huy quân Pháp ở miền Bắc, phải tận dụng cơ hội này 1 cách tối đa để đẩy thêm mâu thuẫn. Như vậy, có thể hiểu 2 sự kiện Hải Phòng và Lạng Sơn này khá giống với sự kiện Vịnh Bắc Bộ khi VN phóng ngư lôi vào tàu Mỹ, Mỹ tận dụng tối đa cơ hội này và dùng thủ thuật đẩy thêm mâu thuẫn (dựng thêm vụ thứ 2) để tạo cớ cho chiến tranh.
Hai bên đã có những đàm phán để hạ nhiệt mâu thuẫn nhưng VM vẫn tiếp tục chuẩn bị cho chiến tranh bằng cách dựng chiến luỹ ở HN, gây cản trở giao thông cho phía Pháp. Quân Pháp cũng căng thẳng cao độ, luôn cấm trại để đề phòng bị VM tấn công, tin tình báo cũng cho thấy điều đó sắp xảy ra, chỉ không chắc về thời điểm. Như vậy là HĐ Sơ bộ và Tạm ước đã bị vi phạm nghiêm trọng khi 2 bên luôn tỏ ra thù địch với nhau. Phía Pháp đòi quân VM phải dỡ bỏ chiến luỹ và giải giáp để tránh bị tấn công, dĩ nhiên VM không chịu. Người Pháp đã phát ra thông điệp tới lãnh sự Mỹ ở HN là CP VNDCCH cần thay đổi, ông Hồ vẫn làm chủ tịch nhưng những cá nhân “hiếu chiến” không thân thiện với Pháp cần phải rút lui, thay vào bởi những người ôn hoà hơn.
Đỉnh điểm của mâu thuẫn là vào ngày 18/12/1946, đoàn xe của tướng Morliere bị bắn, tiếng súng dường như phát ra từ toà nhà Bộ tài chính và Bộ Giao thông VNDCCH, quân Pháp lập tức cho chiếm 2 bộ này. Ngoài ra, Sainteny, là người khá ôn hoà, là uỷ viên CH Pháp ở miền Bắc, người đã liên tục thương thuyết với HCM từ những ngày đầu tiên người Pháp quay lại VN và trực tiếp ký HĐ Sơ bộ, bị đặt mìn xe ô tô khi đi từ nhà tới nơi làm việc, khiến ông này bị thương nặng. 20h ngày 19/12, điện ở HN bị cắt và VM quyết định tấn công người Pháp. Pháp trả đũa bằng cách tấn công Bắc bộ phủ, nơi làm việc của CT HCM và suýt nữa bắt được ông. CT HCM trốn thoát được.
Trong thời gian đó, ở Pháp đang có khủng hoảng chính trị. Khủng hoảng xảy ra từ trước khi hội nghị Fontainebleau diễn ra và đến thời điểm này đã ngã ngũ. Phe cộng hoà bình dân thất thế, liên minh đảng cộng sản và xã hội giành thắng lợi tại QH. Thủ tướng Leon Blum lên thay Thủ tướng Bidault. Đó là lợi thế tiềm tàng cho VM vì CP Pháp thuộc cánh tả, sẽ dễ dàng thương thuyết hơn. Tuy nhiên, VNDCCH đã không tận dụng được cơ hội bởi 2 lý do. Một là do những người Pháp có quyền quyết định ở Đông Dương là D’Argenlieu, Valluy, Pignon, Sainteny đều thuộc phe CP cũ, quyết tâm giữ Đông Dương. D’Argenlieu là cao uỷ và Valluy là tư lệnh QĐ là 2 người có quyền quyết định đều rất cứng rắn, muốn lợi dụng sự mất bình tĩnh của VM để tạo cớ cho cuộc chiến. Khi CT HCM muốn gửi điện trực tiếp cho thủ tướng cánh tả Blum để đề nghị thương thuyết thì bị 2 ông này câu giờ ở Saigon, khiến điện đến Paris chậm mấy ngày, nhằm tận dụng cơ hội VM mất bình tĩnh nổ súng trước. Hai là do VM đã không thể chờ đợi sự phản hồi của lãnh đạo cánh tả bên Pháp. Đây là điều rất đáng tiếc, bởi vì Thủ tướng Blum tỏ ra khá ôn hoà, ông ta đã cử Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại sang Đông Dương để thanh tra các sự cố xung đột. Để chắc ăn hơn, ông còn cử thêm cả tướng Leclerc làm phái viên đi thanh tra tiếp ngay sau đó.
Hai ông thanh tra này đến HN sau khi biến cố 19-12 xảy ra, họ chứng kiến toàn bộ tàn tích của các vụ xung đột, chiến luỹ của VM và xác nhận là cuộc chiến không thể cứu vãn. Hơn thế nữa, ở vị trí bí mật (có lẽ ở Hà Đông), CT HCM phát ra thông điệp trả lời Thủ tướng Blum qua đài phát thanh với lời lẽ cứ như là mọi sai lầm đều do người Pháp và ra yêu sách đòi người Pháp phải rút lui, hạ vũ khí, thì mới chấp nhận thương thuyết. Dĩ nhiên, trên thế mạnh, lại đã cài được để VM tấn công trước (với vai trò bị hại), thì người Pháp không đời nào xuống thang. Điều này khiến cho cơ hội hoà bình đã không thể cứu vãn, cho dù phe tả lãnh đạo nước Pháp đã rất muốn thương thuyết. Sau đó cao uỷ đô đốc D’Argenlieu bị thủ tướng mới rút về Pháp, thay vào đó là 1 cao uỷ dân sự. Đây là điều vô cùng đáng tiếc cho cả 2 phía.
Như vậy, tổng kết lại, thì phe theo chủ nghĩa quốc gia của Pháp, mà đại diện là De Gaulle, ở Đông Dương là D’Argenlieu và Valluy là nhóm muốn giữ bằng được Đông Dương. Họ đã tận dụng tốt cơ hội do sự mất bình tĩnh và thiếu sáng suốt của VM, mà có lẽ người chủ chiến là ông Giáp. Họ dùng các thủ thuật kích động thêm để VM nổ súng trước và họ có cớ để thuyết phục quốc hội và CP Pháp đồng ý phát động chiến tranh với lý do tự vệ. Sự khủng hoảng chính trị và phe CS Pháp lên nắm quyền là cơ hội rất tốt nhưng VM đã không nắm được.
Tài liệu tham khảo: Paris, Saigon, Hanoi bản tiếng Việt (nên chắc không thể có các chi tiết bịa đặt có lợi cho Pháp). Đoạn nói về vấn đề này đến dăm chục trang, mình nén lại còn vài trang nên khó tránh được việc diễn đạt thiếu ý. Ai có thắc mắc gì xin cmt, mình sẽ giải thích thêm. Khi viết stt này mình có tham khảo cuốn Chiến thắng bằng mọi giá – Thiên tài quân sự VN đại tướng Võ Nguyên Giáp, cuốn LS Ngoại giao VN 1945-2000 và cuốn Why Vietnam ở những chi tiết có liên quan.
PHẦN BỔ SUNG
Bài viết được share dưới đây được trích từ cuốn Paris – Saigon – Hanoi của nhà báo/sử gia Pháp Philippe Devillers, người đã có mặt ở VN khi đó.
Còn 1 cuốn sách khác cũng viết cụ thể về giai đoạn rất nhạy cảm này, của sử gia người Na Uy Stein Tonnesson, mình trích đăng review của GS Đại học Oregon- Mỹ dưới đây. Nội dung cuốn này nói chung là trùng khớp với cuốn nói trên, bổ sung 1 số chi tiết. Mình đang định viết review cuốn này nhưng mò được bài viết của GS Mỹ, post luôn đỡ phải nghĩ!
Đáng lưu ý là cả 2 cuốn đều được dịch ra tiếng Việt, phát hành trong nước bởi NXB Tổng hợp TP HCM (chuyên sách chính trị – cuốn đầu) và NXB Chính trị QG Sự Thật (cuốn thứ 2 – nhưng không bán!). Cả 2 cuốn đều có ebook đầy trên mạng. Anh em bò đỏ tìm đọc!
Đây là góc nhìn từ phương Tây về nguyên nhân cuộc chiến Việt Pháp, nó gần như lật đổ toàn bộ những gì mà anh em thiện lành được học trong SGK LS ở tất cả các cấp cho tới chính sử của VN.
Trong các tranh luận gần đây của mình về chế độ thuộc địa, mình thấy đa số người Việt vẫn không có được góc nhìn khách quan về cuộc chiến. Muốn khách quan thì phải nhìn từ 2 phía đối lập. Tiếc là mọi người không có được góc nhìn thứ 2.
Tóm tắt lại về ngày toàn quốc kháng chiến: Người Pháp đã khôn khéo khiêu khích VM, để đưa ông Giáp vào tròng, manh động nổ súng trước. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh là cả từ 2 phía. 2 bên đều ngoan cố, trong khi VM ở thế yếu hơn.
Bài viết đầy đủ xem ở đây http://ta-la-was.blogspot.com/…/vu-tuong-oc-viet-nam-1946-c…
Vũ Tường – Đọc Việt Nam 1946: Chiến tranh đã bắt đầu ra sao
Điểm sách Vietnam 1946: How the War Began (From Indochina to Vietnam: Revolution and War in a Global Perspective) của Stein Tonnesson, NXB ĐH California, Berkeley, 2010.[1]
Năm 1946 là một thời điểm rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam khi nước này vừa thoát ra khỏi ách thuộc địa. Trong quyển Vietnam 1946, sử gia Na Uy Stein Tonnesson theo dõi quá trình diễn biến quan hệ Việt-Pháp từ nhân nhượng đến xung đột qua hai biến cố: Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 và biến cố 19-12-1946 khi chiến tranh bùng nổ. Tonnesson trình bày hai phát hiện quan trọng. Thứ nhất, Hiệp định sơ bộ 6-3 có được do công của các tướng lãnh Quốc dân Đảng Trung Quốc đã cố gắng môi giới cho cả hai bên Pháp Việt tiến hành đàm phán. Mặc dù thực ra sau năm 1945, Paris chỉ muốn bảo vệ quyền lợi của Pháp ở Nam bộ, các viên chức Pháp ở Đông Dương đặt kế hoạch giành quyền kiểm soát lâu dài cả miền Bắc khi họ điều quân ra Bắc để thay thế quân đội chiếm đóng Quốc dân Đảng Trung Quốc. Nếu không có phía Quốc dân Đảng Trung Quốc gây áp lực mạnh đối với cả hai bên Pháp Việt để ký Hiệp định sơ bộ 6-3, chiến tranh có lẽ đã bùng nổ vào lúc đó. Phát hiện thứ hai của Tonnesson liên quan đến câu hỏi ai chịu trách nhiệm đối với việc chiến tranh nổ ra vào ngày 19-12-1946. Cũng như đối với trường hợp trên, Tonnesson cho thấy những viên chức Pháp ở Đông Dương làm trái với chỉ thị của chính phủ Pháp khi họ khiêu khích chính phủ Việt Minh để nhử Việt Minh tấn công trước. Quân đội Việt Minh đã cố gắng không trả đũa các trò khiêu khích của quân Pháp trong một thời gian, nhưng cuối cùng đã sập bẫy và nổ súng vào ngày 19-12, chỉ vài ngày sau khi chính phủ Đảng Xã hội lên cầm quyền ở Pháp và mở ra triển vọng đạt được hòa bình bằng con đường thương thuyết. Tonnesson cũng phê bình tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh của Việt Nam, vì đã ra lệnh khai chiến hoặc đã không ngăn cản được binh sĩ của ông ta nổ súng vào đêm 19-12-1946.
Tonnesson sử dụng rất nhiều tài liệu chủ yếu từ các kho lưu trữ ở các nước phương Tây. Rất rõ ràng và thuyết phục, ông cho thấy vì nhiều lý do, Paris đã bỏ bê tình hình ở Đông Dương, thông tin giữa Paris và Sài gòn (nơi Cao ủy Pháp đóng bản doanh) bị lệch pha, và các chỉ huy Pháp ở Sài gòn đã có những hành động dẫn đến chiến tranh. Chủ yếu dựa trên tư liệu Pháp kết hợp với một ít tư liệu Việt Nam, Tonnesson dựng lại bức tranh khá chi tiết mô tả các biến cố xảy ra từng giờ trong ngày 19-12 cực kỳ quan trọng. Bức tranh này phức tạp hơn nhiều so với câu chuyện chúng ta vẫn nghe về biến cố này như một cuộc tấn công bất ngờ vào lực lượng Pháp do quân đội Việt Minh tổ chức. Mặc dù tướng Giáp đúng là có soạn ra một kế hoạch tấn công như vậy từ trước, Tonnesson cho thấy rằng quyết định tấn công chỉ được đưa ra vài giờ trước khi nổ súng, và cũng không thể loại trừ khả năng binh sĩ dưới quyền tướng Giáp tự tiện nổ súng không có lệnh trên [và ông ta chỉ còn cách phải tuyên chiến với Pháp vì việc đã lỡ xảy ra].
Không chỉ soi rọi các biến cố xảy ra trong năm 1946, công trình của Tonnesson còn có ba đóng góp rộng hơn đối với lịch sử Việt Nam. Đóng góp thứ nhất là về vai trò của Quốc dân Đảng Trung Quốc trong diễn tiến lịch sử Việt Nam. Cho đến nay, giới sử học đã coi nhẹ vai trò của Quốc dân Đảng Trung Quốc đối với sự tồn tại của chính phủ Hồ Chí Minh. Nếu người Trung Quốc đã làm như người Mỹ ở Seoul (từ chối không công nhận một chính phủ thiên tả vừa mới thành lập sau khi Nhật đầu hàng), hay như người Anh ở Sài Gòn và Jakarta (cho phép quân đội Pháp và Hà Lan trở lại khôi phục thuộc địa cũ đã bị Nhật chiếm trong Thế chiến II), chính phủ Hồ Chí Minh có rất ít cơ hội sống sót. Bộ chỉ huy quân chiếm đóng Quốc dân Đảng Trung Quốc giúp chính phủ Hồ Chí Minh qua việc ép buộc các nhóm chống cộng là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội phải tham gia vào chính phủ Việt Minh và ký Hiệp định sơ bộ 6-3. Mặc dù Đảng Cộng sản Đông Dương không thực sự chia sẻ quyền lực với các nhóm này, việc họ tạm thời chấp nhận tham gia vào chính phủ Việt Minh cho phép chính phủ này tuyên bố là Việt Minh đại diện cho tất cả mọi giai cấp và phe nhóm Việt Nam. Thay vì cảm ơn Tưởng Giới Thạch và các tướng lĩnh của ông ta, lịch sử quan phương ở Việt Nam lại chê trách họ: người Trung Quốc bị xem là một kẻ thù còn tệ hơn người Pháp. Các học giả Tây phương (trừ King Chen) cũng rất hay chỉ ra tính chất vô kỷ luật và thổ phỉ của quân đội Quốc dân Đảng Trung Quốc, nhưng quên mất vai trò quan trọng của họ đối với vận mệnh chính phủ Hồ Chí Minh.
Đóng góp thứ hai của Vietnam 1946 là góp thêm chứng cứ cho luận điểm ngược lại với quan điểm lịch sử quan phương về sự lãnh đạo tập trung của Đảng Cộng sản Đông Dương trong và sau “Cách mạng tháng Tám.”[2] Bức tranh ngày càng rõ nét cho thấy một Đảng Cộng sản Đông Dương yếu ớt, phải dựa vào những lực lượng khác để giữ chính quyền, mặc dù có thể Đảng này có tổ chức mạnh nhất so với tất cả. Đảng có rất ít quyền kiểm soát đối với chính quyền địa phương ngoài những thành phố lớn. Việc giải thể Đảng Cộng sản Đông Dương vào cuối năm 1945 làm cho tình hình này tồi tệ hơn. Dựa trên tư liệu của tình báo Pháp, Tonnesson (tr. 24) suy đoán rằng “công tác Đảng bị các lãnh đạo Đảng (nếu không phải là chính Trường Chinh) xem nhẹ trong giai đoạn 1946-47 vì họ bận rộn với công việc quản lý nhà nước.” Giả thuyết binh sĩ của tướng Giáp nổ súng tấn công Pháp bất chấp lệnh trên vào tối 19-12 góp thêm một chi tiết vào bức tranh chung trên.
Thứ ba, Tonnesson chia tay với một xu hướng chủ đạo trong Việt Nam học từ thập niên 1960. Các học giả theo xu hướng này né tránh việc phê phán các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khi cần phải phê phán.[3] Theo xu hướng này, những người cộng sản được mô tả như chỉ quan tâm thuần túy và chính đáng đến việc giành độc lập dân tộc, nhưng bị buộc phải tiến hành chiến tranh tự vệ chống lại các thế lực xâm lược ngoại bang. Có vẻ như họ không bao giờ phạm sai lầm, mà nếu có phạm thì cũng rất thành thật thú nhận. Xu hướng này có lẽ do việc nhiều sử gia quá tin vào hồi ký của các lãnh tụ cộng sản như Trần Huy Liệu và Võ Nguyên Giáp. Không có gì lạ khi các nhân vật này tô vẽ hào quang lên Đảng của họ và lờ đi những sai lầm. Tonnesson mở đầu quyển Vietnam 1946 bằng việc kiểm điểm lại số người chết vì chiến tranh ở Việt Nam trong thế kỷ 20. Con số này lên đến hàng triệu người, cả người Việt lẫn nước ngoài. Tonnesson tin rằng tất cả những cuộc chiến tranh này đều có thể đã tránh được nếu chính phủ Việt Minh đã biết tự kiềm chế vào cái ngày định mệnh 19-12-1946 đó. Trong khi Tonnesson không trách Hồ Chí Minh về biến cố này, ông cho rằng Võ Nguyên Giáp có trách nhiệm để cho chiến tranh xảy ra, mặc dù trách nhiệm của ông ta ít hơn các quan chức Pháp như Đô đốc Georges D’Argenlieu, Leon Pignon, và tướng Jean-Etienne Valluy. Tệ hơn nữa, Tonnesson cho rằng Võ Nguyên Giáp là một người bướng bỉnh tự cho rằng ông ta không có trách nhiệm gì, mặc dù các chứng cớ lịch sử cho thấy khá rõ trách nhiệm của ông ta để cho chiến tranh xảy ra. Theo Tonnesson (tr. 257), “Đối với tướng Giáp, người chịu trách nhiệm rất lớn không chỉ đối với quyết định tấn công [ngày 19-12], nhưng đối với tất cả những thiệt hại nhân mạng và các khổ đau khác trong những cuộc chiến kế tiếp ở Đông Dương, ý nghĩ rằng chuỗi thảm kịch đó có thể bắt đầu từ một sự hiểu lầm là không thể chấp nhận được.”
Quyển sách có một điểm yếu quan trọng: đó là việc dùng rất ít tư liệu từ Việt Nam. Mặc dù Kho lưu trữ của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chưa cho phép các nhà nghiên cứu sử dụng tư liệu, có nhiều bộ Văn kiện Đảng đã được xuất bản, đặc biệt là bộ mới in gần đây từ năm 1999.[4 ]Các văn kiện trong Tập 8 (1945-1947) của bộ sách này cho thấy rõ sự tồn tại của cơ quan Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương vào thời điểm này.[5] Nhân vật bí ẩn trong tư liệu tình báo Pháp có tên là “Nhân Nhân” rất có thể là Trường Chinh, vì ông ta đôi khi ký tên Nhân dưới một số văn kiện.[6]
