Dưới sự phê chuẩn của Tổng Thống Lyndon B. Johnson, 9h sáng ngày 8/3/1965, những tốp lính Mỹ đầu tiên của Tiểu đoàn 3 thuộc Lữ đoàn TQLC số 9 đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng từ Phú Lộc đến Xuân Thiều (quận Liên Chiểu). Chiều cùng ngày, Tiểu đoàn thứ hai của Lữ đoàn 9 được không vận từ căn cứ quân sự của Mỹ ở Okinawa – Nhật Bản đáp xuống sân bay Đà Nẵng, tổng số quân từ các lần đổ bộ của Mỹ khoảng 3.500 lính, khởi đầu cho cuộc chiến khốc liệt và kéo dài sự can thiệp quân sự của Mỹ tại Việt Nam đến khi người Mỹ rút lui khỏi Việt Nam đầu năm 1973 và kéo theo sự sụp đổ của chính thể VNCH vào ngày 30/4/1975.
Sở dĩ Mỹ chọn Đà Nẵng để đổ bộ vì đây là vị trí quân sự chiến lược gần giáp với vĩ tuyến 17 phân chia hai miền Nam Bắc, có thể xây dựng căn cứ quân sự không quân và hải quân để tấn công trả đua ra miền Bắc, cản đường xâm nhập người và vũ khí từ miền Bắc xâm nhập vào miền Nam.
Vào thời điểm đó, sự kiện quân đội Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng đã được xem là bình thường, được sự chào đón của chính quyền VNCH nhưng sau cuộc chiến đã được cá nhà phân tích cho rằng đó là một “nước cờ non” của người Mỹ khi trực tiếp tham chiến thay vì chỉ tăng cường viện trợ quân sự và kinh tế cho chính phủ VNCH, là cái cớ để cho miền Bắc hô hào một cuộc chiến tranh tổng lực “chống đế quốc Mỹ xâm lược” và tạo thế mạnh về ngoại giao cho chính quyền miền Bắc trong cuộc chiến ý thức hệ này.
Đến nay thì có khá nhiều tài liệu đã “bạch hóa” sự kiện người Mỹ dính líu đến cuộc chiến tranh này và cái chung cuộc thì ai cũng rõ!
Vì sao người Mỹ lại trực tiếp phải nhảy vào tham chiến trực tiếp tại miền Nam lúc đó mà không tăng cường quân viện cho quân đội VNCH đủ mạnh để chống lại sự tấn công của quân đội miền Bắc, đó là những vấn đề chúng ta thử tìm hiểu sau đây.
1. Tình hình miền Nam Việt Nam trước khi Mỹ trực tiếp tham chiến.
Thực ra người Mỹ đã có mặt tại Việt Nam từ thời chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, tham gia viện trợ quân sự cho Pháp chống lại lực lượng Việt Minh do Trung Cộng hỗ trợ sau khi chiếm toàn bộ lục địa Trung Hoa vào năm 1949.
Sau khi người Pháp thất trận ở Điện Biên Biên Phủ, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam Bắc với hai thể chế chính trị khác nhau, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới thì người Mỹ đã thay thế Pháp can thiệp vào nền chính trị, quân sự, kinh tế của miền Nam với quốc hiệu là VNCH do ông Ngô Đình Diệm làm Tổng Thống. Về quân sự thì lúc đó chỉ có những nhân viên cố vấn quân sự Mỹ bên các đơn vị tác chiến của quân đội VNCH.
Có những ý kiến khác nhau cho rằng ông Ngô Đình Diệm có tinh thần quốc gia, không muốn phụ thuộc vào ngoại bang nên thời gian cầm quyền của ông đã bị người Mỹ không ủng hộ mà còn can thiệp và lũng đoạn tạo phe phái đấu đá lẫn nhau, và cuối cùng ông Ngô Định Diệm bị lật đổ vào 01/11/1963 và sau đó bị sát hại.
Sau ngày đảo chính ông Ngô Đình Diệm thì chính quyền VNCH trải qua một giai đoạn hết sức xáo trộn nhất là mặt chính trị.
Trong lúc đó thì miền Bắc tiếp tục tăng cường xâm nhập người và vũ khí vào miền Nam, ra sức thúc đẩy các hoạt động quân sự khắp miền Nam dưới danh nghĩa MTGPMN.
Chính quyền VNCH lúc đó vô cùng xáo trộn với chỉ trong vòng chưa đến một năm rưởi sau ngày đảo chính đến tháng 02/1965 đã có ba chính phủ ra đời rồi ra đi.
Nội tình xã hội cũng vô cùng rối ren nhất là tại các đô thị miền Nam liên tiếp xảy ra các cuộc biểu tình, xuống đường chống đối chính quyền của một số tôn giáo và sinh viên học sinh.
Nội bộ quân đội cũng bị ảnh hưởng do cũng có những người chỉ huy thân phe này phái nọ nên ảnh hưởng đến sức chiên đấu của quân đội.
Thời cơ đến cho phía miền Bắc nên họ tung liên tiếp nhiều trận đánh lớn từ cuối năm 1963 và gây thiệt hại khá nhiều cho quân đội VNCH lúc ấy. Những trận tấn công của quân miền Bắc tiếp diễn trong năm 1964 và năm 1965 với những trận đánh lớn và các căn cứ của lực lượng đặc biệt Mỹ trú đóng kể cá một số phi trường.
Do miền Bắc được phe cộng sản hỗ trợ tích cực nên quân đội của miền Bắc đã tăng cường sức mạnh đáng kể với những vũ khí cá nhân cũng như cộng đồng có uy lực hơn hẳn quân đội VNCH vốn chỉ được trang bị những vũ khí tồn kho thời hậu Thế chiến II.
Ví dụ như trong trận Bình Giả năm 1965 ở tỉnh Phước Tuy, thuộc Vùng 3 với những tổn thất rất nặng nề cho Quân đội VNCH, gồm cả các đơn vị Thiết Giáp, Biệt Động Quân và Thủy Quân Lục Chiến.
Trận đánh nầy bắt đầu từ tháng 12/1964 và kéo dài sang đầu năm 1965, kết thúc ngày 02/01/1965.
Riêng chỉ một đơn vị TQLC được xem là đơn vị Tổng trừ bị và thiện chiến của quân đội VNCH, khi chiến đấu với các đơn vị Bắc Việt Nam đã được trang bị AK-47, B-40, RPD … thì lính TQLC vẫn còn phải sử dụng những khẩu Garand M1, Carbine M1/2, Thompson, Trung liên BAR, Đại liên 30…
Có tài liệu cho biết riêng Tiểu đoàn 4 TQLC khi kết thúc trận đánh này đã thiệt hại quân số từ tử trận, bị thương mất tích lên đến 58%. Nguyên nhân cơ bản là do tương quan về hỏa lực hai bên và nhất là quân miền Bắc áp đảo về quân số khi sử dụng hai Trung đòan (Q761 và Q762) để phục kích Tiểu đòan 4 TQLC vào ngày 31/12/1965) trong khi Tiểu đòan này không được yểm trợ hỏa lực gì cả từ Trung tâm hành quân của BTL Quân đòan III vì phần lớn sĩ quan đang nghỉ lễ !
Bản nhận định tình hình quân sự tại VNCH của CIA ngày 24/2/1965 tỏ ra rất bi quan, với những nhận định như sau: “Tình hình an ninh tại các tỉnh phía Bắc và Trung của Nam Việt Nam rất nghiêm trọng. Việt Cộng đạt được những thắng lợi quan trọng tại các tỉnh phía Bắc và xúc tiến nhanh việc bám giữ những khu vực trước kia do chính phủ kiểm soát. Việt Cộng đã kiểm soát được thêm nhiều khu vực và dân cư trong vài tháng qua. Gần đây, các nổ lực bình định của chính phủ đã gặp nhiều khó khăn ở phía Bắc, đặc biệt là trong hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Tại hai tỉnh nầy, chính quyền chỉ còn kiểm soát được các vùng lân cận của các quận lỵ mà thôi . Việt Cộng có khả năng tấn công bất cứ mục tiêu nào cũng như cắt đường liên lạc tại hầu hết các khu vực duyên hải của các tỉnh miền Bắc và Trung của Nam Việt Nam.”
Tướng Westmoreland, Tư Lệnh MACV cũng chia sẻ quan điểm nầy. Trong một báo cáo vào đầu tháng 3/1965, ông đã nhận định như sau: “Nếu tình hình nầy tiếp tục, trong vòng 6 tháng, các lực lượng Nam Việt Nam sẽ chỉ còn kiểm soát được các khu vực chung quanh các tỉnh lỵ và quận lỵ … chúng ta sẽ chứng kiến việc Việt Cộng tiếp thu toàn bộ xứ sở nầy, có lẽ trong vòng một năm.”
2. Phản ứng của Chính phủ Hoa Kỳ
Ngay từ cuối năm 1963, trong báo cáo cho Tổng Thống Johnson ngày 21/12, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara đã nhận dịnh rất bi quan như sau: “Tình hình thật là tệ hại. Cái đà nầy, trừ phi lật ngược lại được, trong vòng 2-3 tháng tới, sẽ đưa quốc gia nầy, trong trường hợp tốt đẹp nhứt, đến việc trung-lập-hóa và gần như chắc chắn là sẽ bị Cộng sản kiểm soát.”
Từ lâu, Tổng Thống Johnson và các cộng sự viên cũng như các cố vấn của ông đều biết rất rõ về tình trạng bất ổn định về chính trị cũng như tình hình nghiêm trọng về an ninh và quân sự của VNCH. Để ngăn chận việc tấn công của phe Cộng sản ở Miền Nam, ngày từ đầu tháng 1/1964, Johnson đã chấp nhận cho thi hành kế hoạch đưa các nhóm biệt hải của VNCH, do CIA huấn luyện và được Hải Quân Hoa Kỳ hổ trợ, ra phá quấy các vùng duyên hải của Bắc Việt. Song song là kế hoạch sử dụng các khu trục hạm của Hải Quân Hoa Kỳ trong vùng Vịnh Bắc Việt nhằm thu thập tin tức về các căn cứ radar cũng như hệ thống truyền tin của Bắc Việt.
Hoa Kỳ đã hình thành chính sách can thiệp bằng quân sự tại Việt Nam từ tháng 8/1964, nhưng Johnson lên cầm quyền thay thế Tổng Thống Kennedy bi ám sát ngày 22/11/1963 quyết định tạm gác lại việc leo thang chiến tranh vì năm 1964 là năm bầu cử và ông không muốn ứng cử dưới chiêu bài chiến tranh.
Ngày 3/11/1964, trong cuộc bầu cử tổng thống, Johnson đã đắc cử Tổng Thống Mỹ và Đảng Dân Chủ của ông cũng chiếm được một đa số tuyệt đối ở cả hai viện của Quốc Hội.
Sang đầu năm 1965, với tình hình chính trị và quân sự tiếp tục bất ổn tại miền Nam Việt Nam, và theo đề nghị của Đại sứ Hoa Kỳ tại VNCH, tướng hồi hưu, nguyên Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ Maxwell Taylor, Tổng Thống Johnson cử Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của ông, McGeorge Bundy, sang VNCH để quan sát tình hình tại chỗ.
McGeorge Bundy đến Sài Gòn ngày 04/02/1965 thì đến ngày 07/02/1965, quân Bắc Việt Nam tấn công vào trại Holloway của Hoa Kỳ ở Pleiku, phá hủy 5 phi cơ và gây tử thương cho 8 binh sĩ. Tổng Thống Johnson đã ra lệnh oanh tạc Đồng Hới để trả đũa ngay lập tức. Ngày hôm sau, 08/02/1965, 24 khu trục cơ A-1 Skyraider của VNCH, do chính Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư Lệnh Không Quân chỉ huy, đã oanh tạc các căn cứ của Bắc Việt Nam tại Vĩnh Linh.
Đến giữa tháng 2/1965, một tàu trọng tải 300 tấn chở vũ khí từ miền Bắc vào bị Hải Quân VNCH phát hiện và đánh chìm tại Vũng Rô – Phú Yên. Vấn đề miền Bắc quyết tâm cuộc chiến tranh với miền Nam đã rõ.
Trong báo cáo cho Tổng Thống Johnson sau khi trở về Hoa Kỳ, McGeorge Bundy nhận định như sau: “Triển vọng tại Việt Nam rất đen tối… Tình hình tại Việt Nam đang suy sụp, và nếu Hoa Kỳ không có hành động mới, việc thất trận sẽ là chuyện không thể tránh được – có thể không phải là trong vòng vài tuần lễ hay vài tháng, nhưng trong vòng năm tới. Tuy không nhiều lắm, nhưng chúng ta vẫn còn thì giờ để xoay chuyển tình thế… Một khuyết điểm nghiêm trọng trong đường lối của chúng ta tại Việt Nam mà chúng ta có thể sửa chữa được là niềm tin khá phổ biến là chúng ta không có ý chí, sức mạnh, kiên nhẫn và quyết tâm làm tất cả những gì cần làm để tiếp tục cuộc chiến.” Và ông khuyến cáo Hoa Kỳ nên thực hiện một chính sách trả đũa liên tục, nghĩa là oanh tạc liên tục Miền Bắc. Tổng Thống Johnson chấp thuận khuyến cáo nầy và quyết định leo thang, biến các cuộc oanh tạc Miền Bắc để trả đũa, nghĩa là chỉ oanh tạc Miền Bắc khi nào lực lượng cố vấn quân sự của Hoa Kỳ tại VNCH bị tấn công thành biện pháp thường xuyên. Chiến dịch oanh tạc thường xuyên nầy được đặt tên là Chiến dịch Rolling Thunder và chính thức bắt đầu vào ngày 02/3/1965. Đà Nẵng trở thành căn cứ quân sự quan trọng nhất của Hoa Kỳ tại VNCH, dùng làm nơi phát xuất cho các phản lực cơ F-105 và F-4 trong các phi vụ oanh tạc Miền Bắc của Chiến dịch Rolling Thunder.
Quyết định đưa TQLC Mỹ vào Đà Nẵng
Trước khi Chiến dịch Rolling Thunder khởi sự, giới quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam đã quan tâm nhiều đến vấn đề bảo vệ an ninh cho phi trường Đà Nẵng. Đầu tháng 2/1965, Tướng Johnny Throckmorton, Tư lệnh phó MACV, sau khi thanh sát các đơn vị VNCH có nhiệm vụ phòng thủ phi trường Đà Nẵng, đã khuyến cáo Tướng Westmoreland là cần có ngay một lữ đoàn TQLC với 3 tiểu đoàn cùng với pháo binh và các đơn vị yểm trợ.
Ngày 22/2/1965, Tướng Westmoreland chính thức yêu cầu Tổng Thống Johnson cho phép đổ bộ ngay 2 tiểu đoàn TQLC Mỹ để bảo vệ căn cứ Đà Nẵng, còn tiểu đoàn thứ ba thì túc trực ngoài khơi để đợi lệnh. Đại sứ Taylor phản đối ngay yêu cầu nầy của Tướng Westmoreland. Ông lo ngại rằng việc mang Lục quân Mỹ vào Việt Nam sẽ đem đến 2 hậu quả quan trọng:
+ Quân đội VNCH sẽ chuyển giao thêm nhiều trách nhiệm cho quân đội Mỹ và nhu cầu hiện diện của quân đội Mỹ sẽ càng ngày càng tăng thêm lên;
+ Sự hiện diện của một lực lượng vũ trang nước ngoài như vậy sẽ đặt quân đội Mỹ vào tình thế giống như quân Pháp trước kia.
Tuy nhiên, Đô Đốc Sharp, Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đồng ý với đề nghị của Tướng Westmoreland và ngày 26/02/1965, Tổng Thống Johnson phê chuẩn đề nghị nầy, với điều kiện phải có sự chấp thuận của chính phủ Phan Huy Quát vừa mới thành lập của VNCH.
Đại sứ Taylor nhận được công điện của Bộ Ngoại Giao Mỹ thông báo quyết định nầy của Chính phủ Mỹ và ra lệnh cho ông thi hành quyết định nầy.
Đại sứ Taylor không thể làm gì khác hơn được là thi hành việc tổ chức việc đổ bộ của 2 tiểu đoàn TQLC nầy vào Đà Nẵng với sự đồng ý của Thủ Tướng Phan Huy Quát. Tuy nhiên Đại sứ Taylor cũng nêu lên vấn đề là có thể Thủ Tướng Phan Huy Quát còn cần phải tham khảo Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quân Lực và Trung Tướng Trần Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH, bố trí để ông và Tướng Westmoreland trình bày cho phía VNCH sự cần thiết của lực lượng TQLC Hoa Kỳ cũng như nhiệm vụ giới hạn của lực lượng nầy tại phi trường Đà Nẵng và nhấn mạnh là chỉ nên duy trì lực lượng nầy cho đến khi nào quân đội VNCH có thể thay thế được quân Mỹ.
Thực ra chính phủ VNCH rất ngần ngại, không muốn thấy Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam, hay nói một cách khác không muốn thấy cuộc chiến bị “Mỹ hóa”.
Tuy nhiên phía Mỹ cho rằng việc đổ bộ TQLC Mỹ vào Việt Nam như là một hành động quân sự có tính cách giới hạn và được thi hành chỉ vì tình hình an ninh xung quanh căn cứ không quân ở Đà Nẵng không được vững!
Theo một số tư liệu và hồi ký của các tướng lĩnh Hoa Kỳ sau này thì lúc đó, người Mỹ cho rằng việc đổ bộ TQLC Hoa Kỳ vào Đà Nẵng không xem như là một bước leo thang quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam mà chỉ là một biện pháp cần thiết để bảo vệ một phi trường quan trọng, cần thiết để thực hiện một chiến lược đã được chấp thuận tức là kế hoạch Rolling Thunder nhằm oanh tạc liên tục Miền Bắc!
Tuy nhiên một việc tưởng chừng đơn giản nhưng là “cái sảy nảy ra cái ung” khiến miền Bắc trở nên có “chính danh” khi phát động và kêu gọi chiến tranh tổng lực để “đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam” dù có “ năm năm, mười năm hoặc lâu hơn nữa!”
Đúng như tiên liệu và sự lo ngại của Đại sứ Mỹ Taylor khi không đồng ý với sự đổ bộ của quân Mỹ vào miền Nam, đến cuối năm 1965, số quân Mỹ đã tăng lên con số 184.000 trên toàn lãnh thổ VNCH so với con số 23.000 cố vấn quân sự Mỹ vào cuối năm 1964.
Từ tháng 02/1965, Hoa Kỳ chủ yếu dựa vào cuộc chiến tranh ném bom. Bắt đầu là do thiếu những sự lựa chọn khác, đợt không kích chống Bắc Việt Nam có nhiệm vụ ngăn chận cuộc thâm nhập vào miền Nam và làm ổn định chế độ ở Sài Gòn về mặt tâm lý. Về mặt quân sự thì nó hầu như không có nghĩa lý gì, vì Bắc Việt Nam là một nước hoàn toàn nông nghiệp, hầu như không có cơ sở công nghiệp nào đáng kể. Nhưng chính phủ Johnson vẫn bám chặt vào nó, vì họ hy vọng rằng có thể ném bom đẩy miền Bắc tới bàn đàm phán. Ngoài ra, nó giúp họ làm hài lòng giới đối lập bảo thủ.
Lúc đầu, các cuộc không kích của Mỹ tập trung vào các mục tiêu ở khu phi quân sự bắc vĩ tuyến 17. Rồi trong diễn tiến của năm 1966, nó từng bước di chuyển lên hướng Bắc.
Để tránh việc Trung Quốc tham chiến, Hoa Kỳ ngần ngại không tấn công Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng. Tổng Thống Johnson cũng chống các cân nhắc ném bom hệ thống đê đập rộng lớn để gây ngập lụt và nạn đói. Ông cũng khước từ yêu cầu ném bom toàn phần Bắc Việt Nam của Không quân hay của Hội đồng Tham mưu trưởng. Thay vì vậy, ông để cho phát triển một hệ thống đánh giá tinh vi mà nhờ vào đó có thể lựa chọn ra các cơ sở quân sự quan trọng ở Bắc Việt Nam để ném bom, với niềm tin tưởng sai lầm rằng bằng cách này có thể tiến hành một cuộc chiến tranh ném bom “chính xác như phẫu thuật”.
Cuộc chiến tranh ném bom miền Bắc của Mỹ gây ra hàng chục ngàn nạn nhân, phá hủy một số cơ sở vật chất của miền Bắc nhưng nó không hạn chế được khả năng tiếp tục tiến hành chiến tranh của Bắc Việt Nam. Mặc cho nhiều trở ngại, công cuộc chuyển người, vũ khí và lương thực vào miền Nam đã tăng lên liên tục làm tăng dần con số thương vong của quân đội Mỹ lúc này cũng gia tăng leo thang khiến người dân Mỹ ngày càng không tin vào những chiến lược của chính phủ Mỹ khi tham chiến tại Việt Nam, gia tăng phong trào phản chiến ngay tại Mỹ và cái kết thì có lẽ chúng ta ai cũng đã rõ ….
Đại sứ Taylor quả có tầm nhìn xa hơn Tướng Westmoreland nhưng ông không chống lại được một quyết định của phe quân sự đã được Tổng Thống Johnson phê chuẩn.
Nếu ngày ấy lời đề nghị của Đại sứ Taylor được chấp thuận và phía chính phủ VNCH kiên quyết hơn nữa, không đồng ý cho quân đội Mỹ trực tiếp tham chiến tại miền Nam thì có cái kết của cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ khác hơn nhiều …
Hoài Nguyễn
