From Dương Quốc Chính
Trong stt Ai bán đứng đồng minh, mình đã viết sơ sơ về mối quanhệ này, trong phần cmt có mấy người hỏi cụ thể thêm nên mình viết chi tiết thêm ở đây.
Khác với Nhật, Hàn, Đài, Philippines, VNCH không hề có bất cứ 1 hiệp ước quân sự song phương nào với Mỹ. Nói cách khác, quan hệ Mỹ – VNCH là hôn nhân không có giá thú. Vì đã không có kết hôn nên tất nhiên không cần ly hôn.
Đó là lý do, về mặt pháp lý, khiến cho Mỹ không có trách nhiệm gì với VNCH. Nên bảo là bán đứng là không phù hợp.
Vậy Mỹ tham chiến ở VN với lý do pháp lý gì?
Các nước phương Tây muốn can thiệp quân sự hay ngoại giao đều cần 1 lý do phù hợp với hiến pháp của họ. Tất nhiên việc này cũng vậy.
Tháng 9/1954, ngay sau khi hiệp định Geneva được ký kết, tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á – SEATO cũng được thành lập. Đây là 1 tổ chức gần như như NATO ở ĐNA, mục đích là để ngăn cản sự lan tràn của CNCS từ Bắc VN và TQ.
Tuy gọi là ĐNA nhưng chỉ có 2 nước ĐNA tham gia là Philippines và Thái Lan, 2 nước này lúc đó cũng đang bị đe doạ bởi các phiến quân CS được hỗ trợ bởi TQ.
Các nước còn lại là Mỹ, Anh, Pháp, Úc, New Zealand, Pakistan (lúc đó bao gồm cả Bangladesh). Đáng lưu ý là không có 3 nước Đông Dương, vì còn bị ràng buộc bởi HĐ Geneva. Indonesia và Myanmar lúc đó không tham gia vì đã tham gia phong trào không liên kết. Đài Loan không được các nước còn lại chấp thuận cho tham gia tổ chức.
Mối quan hệ giữa các nước trong khối SEATO khá lỏng lẻo, các nước chỉ cam kết hỗ trợ nhau bằng hội ý khi có mối đe doạ CS. Các nước trong tổ chức có mở rộng sự ảnh hưởng sang cả 3 nước Đông dương. Anh và Pháp không có mấy đồng thuận với tổ chức này. Điều 4 của hiệp ước không dám cam kết hành động vũ lực ngay lập tức chống lại sự can thiệp của phe CS mà chỉ cam kết hành động chống lại mối nguy hiểm chung theo quy trình được hiến pháp mỗi nước quy định.
Úc, New Zealand, Thái, Philippines là những đồng minh thân cận của Mỹ khi Mỹ tham chiến ở VN. Thái và Úc còn đem quân sang.
SEATO giải tán vào năm 1977, khi quan hệ Mỹ Trung tan băng và hiểm hoạ làn sóng đỏ không còn hiện hữu ở ĐNA.
Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ diễn ra vào năm 1964, lưỡng viện QH Mỹ có ra 1 nghị quyết có nội dung:
“Quốc hội tán thành và ủng hộ quyết định của Tổng thống theo yêu cầu của Tổng tư lệnh là áp dụng mọi biện pháp cần thiết để đẩy lùi các đợt tấn công có vũ trang chống lại các lực lượng của Mỹ và còn ngăn ngừa sự gây chiến tiếp theo… Theo quyết định của TT là tiến hành mọi bước cần thiết, bao gồm cả việc sử dụng LLVT để trợ giúp bất cứ nước thành viên nào theo yêu cầu của Hiệp ước phòng thủ chung ĐNA, nhằm bảo vệ nền tự do của nước đó”.
Như vậy, có thể thấy, tính pháp lý của Mỹ khi can thiệp vào VN là bởi nghị quyết Vịnh Bắc Bộ và Hiệp ước phòng thủ chung của khối SEATO. Đây coi như chỉ là sự ràng buộc đơn phương của phía Mỹ và không có sự tham dự chủ động của VNCH (do e ngại HĐ Geneva). Nghị quyết này coi như vô hiệu sau HĐ Paris. Nên kể từ đó, Mỹ và VNCH không còn mối ràng buộc pháp lý nào hết.
Giai đoạn TT Diệm chấp chính, Mỹ đã từng có đề nghị 2 nước có 1 hiệp ước quân sự song phương, vì về lý thì cả 2 nước đều không ký HĐ Geneva. Nhưng TT Diệm bác bỏ với lý do là không muốn biến VNCH thành 1 nước bị bảo hộ, không muốn có hình ảnh của chế độ thực dân. Nhưng đến năm 61, ông đã nói với đại sứ Nolting là muốn có 1 hiệp ước song phương, do lúc đó quân Bắc Việt can thiệp quá mạnh vào VNCH khiến ông Diệm gặp nhiều khó khăn. Nhưng đổi lại, phía Mỹ lại đòi can thiệp vào việc hoạch định chính sách VNCH. Tất nhiên ông Diệm không đồng ý và hiệp ước đó không bao giờ được ký.
Nếu hiệp ước này được ký thì có lẽ VNCH sẽ an toàn hơn và Mỹ có thể đã can thiệp mạnh mẽ hơn ra Bắc VN.
Ngày 8/3/1965, quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng trong bối cảnh chính quyền VNCH hỗn loạn sau hàng loạt cuộc đảo chính. Quân VC lại can thiệp mạnh khiến chính quyền VNCH đứng trước bờ vực sụp đổ. Việc đổ quân này thực thi theo nghị quyết Vịnh BB nhưng khiến cho VNCH hoàn toàn bất ngờ. Thủ tướng Phan Huy Quát phải cấp tốc ban hành văn bản “chấp thuận cho QĐ Mỹ vào VNCH” để giải quyết sự vụ.
Như vậy, cuộc chiến Mỹ – VNDCCH không hề có tuyên bố bắt đầu và kết thúc. Mỹ vào VN bằng các cố vấn quân sự và rút khỏi VN cũng là các tùy viên quân sự. Còn việc can thiệp quân sự chính thức chỉ là từ năm 65-73, không giống với SGK lịch sử VN vẫn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ 54-75.
