HỘI NGHỊ GENEVA THÁNG 7 NĂM 1954

Từ anh Dương Quốc Chính

VAI TRÒ CỦA TRUNG QUỐC TRONG HỘI NGHỊ

Ngày 11 đến ngày 21 tháng 7 năm 1954 chính là vòng đàm phán cuối cùng của hội nghị Geneva, bàn về việc đình chiến ở Đông Dương.

Ít ai biết rằng ngày cuối cùng của hội nghị này các đại biểu đã phải họp thâu đêm và chính vào thời điểm này chiếc đồng hồ THỤY SỸ tại nơi hội nghị diễn ra, Palais des Nations, đã bị ngừng chạy, trước 12h đêm, trong khi hội nghị vẫn đang diễn ra.

Thực tế, thời điểm ký HĐ Geneva là vào rạng sáng ngày 21/7, nhưng vì thủ tướng Pháp Mendes France đã hứa với quốc hội Pháp là sẽ từ chức nếu hết ngày 20/7 mà không ký được HĐ. Đó là lý do khiến chiếc đồng hồ bị chết! Sau khi ký HĐ, TTg Pháp còn hỏi đùa TTg TQ Chu Ân Lai là: “Tôi có nên từ chức hay không?” Lý do khiến hội nghị bị lụt tiến độ là do vào phút cuối, đại diện hoàng gia Campuchia đã đưa ra quan điểm trái chiều và đe dọa sẽ không ký HĐ. Các bên phải cố gắng thuyết phục ông Tep Phan đến 2h sáng để đi đến đồng thuận.

Quan điểm của hoàng gia Campuchia chủ yếu liên quan đến vấn đề tranh chấp lãnh thổ với VN, về thời gian quân VN rút khỏi Campuchia. Họ lo ngại HĐ cấm Campuchia có liên minh quân sự trong khi lại sợ VN sẽ thôn tính họ trong tương lai.

Quay lại HĐ Geneva, thực tế đây là không hề là thắng lợi ngoại giao của VN như sách GK lịch sử vẫn tuyên truyền, mà ngược lại, nó cho thấy 2 chính quyền VN khi đó chỉ là quân cờ trên bàn cờ Đông Dương. Quốc gia VN thì dễ thấy là bị phụ thuộc vào Pháp. Nhưng VNDCCH, bên đổ máu nhiều nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng chả có vai trò gì trong việc đàm phán HĐ. Chính Chu Ân Lai mới là KTS cho hiệp định, ông ta là người hoạch định và quyết định gần như mọi nội dung, trong đó có vấn đề giới tuyến. Và kẻ hưởng lợi lớn nhất khi có HĐ Geneva lại chính là TQ. 2 nước có vai trò chính tại hội nghị này là Pháp và TQ.

Các tài liệu được công bố công khai, phổ biến ở VN thường lờ đi vai trò của TQ trong việc ký HĐ Geneva. TQ trực tiếp chỉ đạo VN qua hội nghị tổ chức ở Liễu Châu, TQ. Hội nghị này diễn ra sau giai đoạn 2 của hội nghị Geneva, khi các đoàn về nước đàm phán riêng với các đồng minh của mình. Phó TTg Phạm Văn Đồng không về mà ở lại chờ kết quả cuộc họp Liễu Châu.

Phiên họp thứ nhất của hội nghị bắt đầu lúc 9 giờ sáng ngày 3-7-1954, phía Trung Quốc tham dự có Chu Ân Lai, Vi Quốc Thanh, La Quý Ba (2 người là cố vấn chính góp phần giành chiến thắng của VN ở chiến dịch Biên Giới và Điện Biên Phủ), Giải Phương (tổng tham mưu trưởng cho Bành Đức Hoài tại chiến tranh Triều Tiên được HCM trực tiếp mời làm cố vấn ngoại giao), Trần Mạn Viễn, Kiều Quán Hoa, phía Việt Nam là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Hoan.

Tại hội nghị này, Võ Nguyên Giáp trình bày về cục diện chiến trường ở VN. Ông phân tích tiềm lực quân sự mỗi bên và đi đến kết luận là nếu đánh tiếp thì phải cần ít nhất 3 năm nữa, với điều kiện là Mỹ không can thiệp quân sự. Vi Quốc Thanh và La Quý Ba cũng đồng quan điểm. Điều đó cho thấy việc phải ký HĐ Geneva là tất yếu.

Chu Ân Lai thuyết phục phía VN là không nên gây sức ép để Mỹ can thiệp quân sự và đề xuất việc chia giới tuyến quân sự ở vĩ tuyến 16 (chính là giới tuyến giải giáp quân Nhật năm 45) rồi khuyên VN nên cạnh tranh hòa bình để giành thắng lợi trong tổng tuyển cử. Điều này cho thấy chính Chu Ân Lai là tác giả của việc chia cắt VN và HĐ Geneva. Đoàn VN đồng ý với ý kiến của Chu sau đó ra 1 chỉ thị gọi là chỉ thị 5/7 (ngày kết thúc hội nghị Liễu Châu).

Cũng chính tại hội nghị này, TQ cũng đã bàn với VN về việc “phá hiệp định” sau này.

Chu Ân Lai chỉ ra:

— Về vấn đề Đảng Lao động Việt Nam bỏ một số căn cứ địa tại miền Nam, rút quân đội đi không phải là sẽ nộp vũ khí quân không chính qui. Chúng ta có thể giải thích, phàm là đơn vị quân đội đều rút đi, nhưng không rút đi tất cả vũ khí, Vũ khí, thứ nào cất giấu đươc thì cất giấu, cán bộ quân đội ai lưu lại được thì lưu. Cất giấu vũ khí phải phân tán, không được tập trung nhằm tránh rơi vào tay quân địch.

Võ Nguyên Giáp nói:

— Bước đầu chúng tôi dự tính rút khỏi miền Nam khoảng 60.000 người, trong đó 50.000 bộ đội, 10.000 là những người làm công tác chính trị, những người “đỏ” quá phải rút đi. Cũng có tính toán, lưu lại một ít trong số 60.000 người. Ví dụ từ 5.000 đến 10.000 người ở lại miền Nam, chờ thời cơ.

Cũng tại hội nghị này, 2 bên bàn bạc về cách thức tuyên truyền hậu hiệp định, đặc biệt là thuyết phục người dân và cán bộ chiến sỹ miền Nam bị mất chính quyền…Có thể nói, hội nghị Liễu Châu chính là hội nghị trù bị cho hội nghị Geneva. Mọi nội dung chính của HĐ Geneva được thỏa thuận tại đây và do Chu Ân Lai quyết định.

Quay lại hội nghị Geneva, trưởng đoàn Phạm Văn Đồng ban đầu lại có thái độ cứng rắn với Pháp. Ông muốn chia giới tuyến ở vĩ tuyến 13, rồi 14, không tuân thủ chỉ thị 5/7. Đích thân Chu Ân Lai (trưởng đoàn TQ) phải thuyết phục ông Đồng phải tuân theo chỉ thị của TƯ. Lúc đó ông Đồng mới đồng ý.

Quan điểm của Pháp là chia ở vĩ tuyến 18, hình như lấy sông Gianh làm giới tuyến. Phía VN, khi đó đã tuân theo TQ, thì đòi vĩ tuyến 16. Phía Pháp lấy lý do là họ bị mất Đà Nẵng và Huế (hoàng tộc không còn mộ tổ tiên), mất cả đường 9 (là đường mà Lào ra biển) sẽ biến hoàng gia Lào thành lệ thuộc VNDCCH. Giằng co ở đây khá gay gắt và cuối cùng, lại vẫn là Chu Ân Lai quyết định chọn vĩ tuyến 17 làm giới tuyến tạm thời.

Quan điểm của Quốc gia VN trùng khớp với Mỹ, là phản đối việc chia cắt VN và không ký HĐ. Phía Mỹ kiên quyết phản đối nhưng không chống lại việc các bên ký HĐ.

Trần Văn Đỗ đại biểu chính phủ Bảo Đại Việt Nam phát biểu trong phiên họp cuối cùng, nói đại biểu nước Việt Nam từng đề xuất một kiến nghị, yêu cầu quân đội giao chiến hai bên lui về vùng tập kết nhỏ nhất, giải trừ vũ trang, do LHQ thực thi khống chế tạm thời đối với cả nước Việt Nam, thông qua tuyển cử khiến nhân dân Việt Nam tự do lựa chọn tương lai của mình.

Tiếp đó Trần Văn Đỗ tuyên bố mấy kiến nghị: Trước tiên là kháng nghị đề án trước chưa được thẩm tra đã bị hội nghị từ chối. Thứ hai, kháng nghị, Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp và Tổng tư lệnh bộ đội Việt Minh vội vàng ký hiệp nghị đình chiến, coi thường lợi ích của nước Việt Nam.

Mặc dù Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp được uỷ quyền chỉ huy quân đội nước Việt Nam, thế nhưng nước Pháp không thể đem lợi ích của nước Việt Nam ra giao dịch. Một số đất đai quân Pháp nhường cho Việt Minh trên thực tế là dưới sự khống chế của quân đội nước Việt Nam. Cuối cùng, ông ta kháng nghị Pháp đã làm quá chức trách, phận sự, chưa được sự đồng ý của nước Việt Nam đã xác định ngày tháng tổng tuyển cử của Việt Nam trong tương lai.

Phát biểu của Trần Văn Đỗ lại làm cho không khí hội nghị căng thẳng lên.

Mendès-France lập tức phát biểu bào chữa nói:

— Đoàn đại biểu Pháp tin chắc lúc phía Pháp làm như vậy đã suy nghĩ đầy đủ tới lợi ích của nhân dân Việt Nam. Chính phủ Pháp luôn luôn quan tâm chú ý tới an ninh của vùng giáo dân Thiên chúa tập trung tại miền Bắc Việt Nam, tán thành bọn họ tự do biểu đạt ý chí. Phía Pháp hy vọng lời hứa của ngài Hồ Chí Minh là có hiệu lực.

HĐ được ký bởi tất cả các nước dự hội nghị, trừ QGVN và Mỹ. Tuyên bố cuối cùng được tách riêng, không có nước nào ký, chỉ biết quyết mồm, trừ QGVN và Mỹ.

Sau khi hội nghị kết thúc vào ngày 21/7, thứ trưởng Bộ QP Tạ Quang Bửu, đại diện ủy quyền của quân đội VNDCCH ký HĐ cùng tướng Delteil, đại diện tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương, đã mời Delteil ly sâm panh, nhưng không được ông kia đồng ý.

Chu Ân Lai cũng tổ chức tiệc sau hội nghị, nhưng trưởng đoàn QGVN là Trần Văn Đỗ (anh ông Trần Văn Chương là bố bà Lệ Xuân) từ chối. Người đi dự tiệc thay là Ngô Đình Luyện, em út TTg Ngô Đình Diệm. Ông Luyện lại là bạn học của ông Tạ Quang Bửu ở bên Pháp! Tại bữa tiệc, ông Chu có gợi ý với ông Luyện là QGVN sau này nên thiết lập sứ quán tại Bắc Kinh.

VÀI ĐIỀU CỦA HIỆP ĐỊNH GENEVA CẦN LÀM RÕ

Mình Google trên mạng không kiếm được bản gốc tiếng Việt của HĐ Geneva, thấy toàn trích đoạn. Mà trích đoạn thì hay bị bẻ lái. Hôm nọ mình có trao đổi với 1 bạn về HĐ này, bạn ấy đưa ra 1 bản full không che, nhưng lại dịch từ bản tiếng Anh (không phải bản gốc). Bản gốc chỉ có tiếng Pháp và Việt. Có lẽ vì nội dung nhạy cảm nên VN không công bố rộng rãi bản chụp (chắc in roneo) của bản gốc. Vì thế nên mình dùng tạm bản trong sách lề phải, tạm coi là chuẩn, ít ra là không chế điều gì bất lợi cho VNDCCH.

Khi đọc bản full này mình để ý 1 số điều khoản nhạy cảm mà chắc là nhiều người không để ý, trong ảnh đính kèm.

Điều 1 có viết đại ý là QĐND VN rút về miền Bắc, QĐ Liên hiệp Pháp rút về Nam. Mình hiểu QĐND VN bao gồm cả phe cánh của họ chứ không chỉ là bộ đội. Thực tế các đảng viên CS cũng tập kết. Hơn nữa, đảng viên (dân sự) là những người quản lý quân đội. Tuy nhiên ông Lê Duẩn, là bí thư xứ ủy Nam Bộ, và nhiều đảng viên khác đã trốn ở lại miền Nam. Ông Duẩn đã viết Luận cương CM miền Nam vào giai đoạn này trước khi ra bắc làm Bí thư thứ nhất đảng Lao động (CS).

Phe QĐ LH Pháp thì bao gồm cả QĐ QGVN đã thực hiện nghiêm chỉnh điều 1 này, rút toàn bộ về Nam. Nhìn chung, toàn bộ máy chính quyền QGVN cũng rút về Nam. Có lẽ có 1 số người ở lại Bắc, nhưng không nhằm mục đích cài lại mà do họ lựa chọn ở lại.

Điều này cũng cấm vi phạm khu vực phi quân sự. Nhưng thực tế thì sông Bến Hải chỉ là giới tuyến đến khoảng năm 68, sau đó bị VNDCCH lấn qua, đến năm 1972, sau Mùa hè đỏ lửa thì giới tuyến đã di chuyển vào đến sông Thạch Hãn.

Điều 14a, 2 bên quản lý hành chính khu vực mà QĐ của mình quản lý, thế nên QGVN sau này là VNCH quản lý miền Nam là đúng tinh thần HĐ.

Điều 14c, 2 bên không trả thù hay phân biệt đối xử với cá nhân, tổ chức vì lý do hoạt động của họ trong chiến tranh và đảm bảo quyền tự do dân chủ của họ.

Phía VNDCCH đã cho cải cách ruộng đất, chính là trả thù và phân biệt đối xử với những người địa chủ. Họ không thuộc thành phần phải tập kết vào Nam theo HĐ. Phía VNCH cũng bắt bớ các đảng viên CS bằng chiến dịch Tố cộng, Diệt cộng. Nhưng các đảng viên này nằm trong diện phải tập kết ở điều 1. CCRĐ xảy ra từ trước khi ký HĐ Geneva, nhưng vẫn tiếp diễn sau khi HĐ được ký, đây là cách để VNDCCH thanh lọc giai cấp, sẽ dễ dàng hơn để giành phiếu khi TTC.

Điều 16, đại ý là cấm tăng thêm quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí đạn dược và lập căn cứ quân sự của quân đội nước ngoài…

Thực tế là 2 bên đều vi phạm điều khoản này khi để quân đồng minh vào lãnh thổ mình để tham chiến và cung cấp vũ khí. Tuy nhiên, phía VNCH và Mỹ không ký HĐ, còn VNDCCH có ký.

Điều 27, nhưng người ký HĐ này và người kế nhiệm họ phải nghiêm chỉnh thực hiện HĐ này. Phía Pháp và VNDCCH ký HĐ, Mỹ và QGVN không ký. Vì thế Mỹ và QGVN không có nghĩa vụ thực hiện HĐ, còn Pháp và VNDCCH bắt buộc phải thực hiện HĐ.

HĐ này còn 1 phần nữa, gọi là Bản tuyên bố cuối cùng mà không có bên nào ký, nhưng có thống nhất “mồm”, riêng Mỹ và QGVN không thống nhất. Trong đó có mục 7 nói về việc tổng tuyển cử sẽ thực hiện vào tháng 7 năm 1956, sẽ có quốc tế giám sát và 2 bên phải gặp gỡ để thương lượng. Thực tế là ông Diệm không chấp nhận thương lượng với lý do nêu trên. Phía VNDCCH đổ cho VNCH và Mỹ vi phạm hiệp định!

Mục 10 có nói về việc Pháp rút hẳn quân khỏi Lào, Campuchia và VN theo yêu cầu của CP có liên quan trong thời gian nhất định do 2 bên thỏa thuận. Như vậy đồng nghĩa với việc Pháp không bắt buộc phải rút quân khỏi VNCH, rút hay không và vào thời điểm nào là do QGVN. Thực tế là Pháp cũng không muốn rút ngay nhưng ông Diệm và Mỹ đã gây sức ép để Pháp phải rút hẳn vào năm 1955, sau đó ông Diệm lập nên VNCH.

Điều này cũng chứng tỏ là VM chỉ đánh và đàm để Pháp rút khỏi miền Bắc VN. Còn ông Diệm và Mỹ là tác nhân để Pháp rút khỏi miền Nam VN. Mỹ ép bằng cách viện trợ thẳng cho QGVN không thông qua Pháp nữa. Nên Pháp trở thành thừa và không có tiếng nói gì với QGVN.

CUỘC DI CƯ

Vĩ tuyến 17 là do Chu Ân Lai và Molotov quyết định cho nhanh, Vn phải theo 2 đại ca, VN trước đó mặc cả là vĩ tuyến 13 rồi 16, Pháp đòi vĩ tuyến 18. Hầu hết người Việt trong nước không hề biết nội dung bản hiệp định này ngang dọc ra sao, chỉ biết đại ý là lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời, 2 năm sau tổng tuyển cử, CS ở miền Nam thì tập kết ra Bắc, dân Bắc thích thì di cư vào Nam. Hết!

Vì không biết nội dung hiệp định cụ thể ra sao nên chả biết bên nào là bên phá hiệp định, chỉ nghe thông tin 1 chiều. Câu hỏi đặt ra là tại sao có khoảng 1 triệu người di cư vào Nam trong khi đó chỉ có khoảng 150 nghìn người tập kết, di cư ra Bắc? Phải chăng VNDCCH, có bề dày lịch sử và thành tích đánh Pháp hơn, lại tuyên truyền kém hơn Quốc gia VN, là chính quyền non trẻ, chả đánh Pháp ngày nào?
———————————–
Theo GS Lê Xuân Khoa trong cuốn Việt Nam 1945-1995 – Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử, chương 6: Di tản và Định cư Tị nạn 1954

Di cư vào Nam

Theo thống kê của Phủ Tổng ủy Di cư Tị nạn (QGVN), tổng số dân rời bỏ miền Bắc vào Nam là 875,478 người trong số đó 871,533 đi trước ngày 19 tháng Năm và 3,945 người đi trong thời gian gia hạn. Nếu tính thêm số người vượt tuyến sau khi hết hạn, khoảng 76,000 người đi bằng thuyền hay đường bộ (xuyên rừng qua Lào), tổng số tị nạn lên tới gần 950,000 người.

Di cư và Tập Kết ra Bắc

Theo hiệp định đình chiến tại Genève, khoảng 140,000 bộ đội cộng sản, cán bộ và gia đình được chính phủ VNDCCH đưa ra tập kết ở miền Bắc bằng phương tiện riêng trong thời hạn 300 ngày. Ngoài ra, số người xin di cư hay hồi cư từ Nam ra Bắc tổng cộng chỉ có 4,358 người, trong đó 1,018 người (599 người lớn, 419 trẻ em) được phi cơ nhà binh của Pháp chuyên chở giúp. Chuyến bay đầu tiên khởi hành ngày 8.4.1955 và chuyến cuối cùng vào ngày 9 tháng Năm. Sau ngày này, số 3,340 người còn lại (1,913 người lớn, 1,427 trẻ em) được Pháp chở bằng tàu thủy, chuyến cuối cùng là ngày 14.7.1955, gần hai tháng sau thời hạn ấn định.

Leave a comment