ĐIỆN BIÊN PHỦ

Bài anh Dương Quốc Chính

Câu chuyện

Bối cảnh

Cuộc chiến Pháp – Việt nổ ra vào ngày 19/12/1946, chính quyền VNDCCH bỏ HN và các đô thị rút lên chiến khu Việt Bắc. Trước đó, ở miền Nam, chính quyền VM cũng đã rút bỏ vào bưng, quân Pháp cơ bản đã lập lại trật tự như trước 45. Một chính quyền thân Pháp là CH Nam Kỳ được lập ra để quản lý miền Nam.

VM rút lên chiến khu phát động chiến tranh du kích. Cuối năm 1949, Mao thắng Tưởng lập nên chính quyền CHND Trung Hoa (Trung cộng). TQ nhanh chóng công nhận VNDCCH và VM có ngay 1 đồng minh ở mặt Bắc. Mao cử đoàn cố vấn sang giúp VNDCCH đánh Pháp. Thắng lợi đầu tiên là chiến dịch Biên giới, giúp khai thông tuyến đường tiếp tế từ TQ về Việt Bắc. Quân Pháp phải rút khỏi Cao Bằng.

Ngay sau khi được TQ công nhận, CT HCM sang LX để cầu viện Stalin. Được Mao bảo lãnh, Stalin chấp nhận thiết lập quan hệ với VNDCCH và đồng ý viện trợ cho VNDCCH thông qua TQ (lấy hàng của LX viện trợ TQ để chuyển sang VN, LX bù lại sau). Lúc đó LX chưa cử cố vấn sang VN.

Kể từ khi được TQ hỗ trợ hết mình, VM bắt đầu đánh lớn, thành lập các đại đoàn được trang bị vũ khí tương đối đầy đủ, đặc biệt là 1 số trung đoàn pháo binh, vân tải, không như giai đoạn trước và giành được 1 số thắng lợi trước quân đội Liên hiệp Pháp.

Năm 49, Quốc gia VN được thành lập, sau khi Pháp nhận thấy là không còn cách gì để đàm phán với VM. Vài năm sau, quân đội QGVN cũng được thành lập, nằm trong quân đội LH Pháp.

Từ năm 51-53, quân đội VM lớn mạnh rất nhiều. Người Pháp đã không dám coi VM là 1 đội quân du kích thuần túy nữa. Quân VM đã tiến đánh cả vùng đồng bằng và trung du khiến Pháp phải rút khỏi Hòa Bình. Tuy nhiên VM đã gặp thất bại nặng nề trong trận Mạo Khê và Vĩnh Yên khi tướng De Lattre de Tassigny cho ném bom napalm vào trận địa, chấp nhận chết cả lính Pháp. Điều đó thể hiện điểm yếu của VM khi tấn công đồng bằng và cho thấy lợi thế về vũ khí của Pháp ở vùng đồng bằng.

Con trai tướng de Lattre cũng đã tử trận tại VN, rồi sau đó chính ông ta cũng bị bệnh mà chết. May mắn cho VM. Trung tướng Salan lên thay de Lattre nhưng cũng nhanh chóng quay về Pháp. Đại tướng Navarre đang từ Đức được cử sang làm Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương.

Kế hoạch Navarre

Navarre cho rằng cần ngăn chặn VM đánh chiếm Thượng Lào. Ông ta cho thiết lập 1 “tập đoàn cứ điểm” (các cứ điểm đóng liên hoàn) ở Điện Biên Phủ để ngăn chặn VM, đồng thời muốn thu hút VM vào đó để sống mái trong 1 trận đánh lớn, làm sức hút để VM không thể đánh về đồng bằng.

Điện Biên Phủ và vùng lòng chảo với núi bao bọc xung quanh 1 vùng bằng phẳng có các quả đồi nhỏ, Pháp dùng làm các cứ điểm liên hoàn, được đặt bằng những cái tên phụ nữ! Pháp cho khai quang toàn bộ xung quanh vùng lòng chảo, để VM có tấn công bằng bộ binh thì không có chỗ ẩn nấp.

Pháp phải chuyển quân cũng như vũ khí, khí tài bằng máy bay. VM có khoảng 600 xe vận tải hàng viện trợ từ TQ sang qua và vận chuyển vào trận địa bằng sức người khi không còn đường ô tô chạy được. Lương thực và 1 số nhu yếu phẩm khác VM chuyển bằng đường dân công (xe đạp thồ) từ đồng bằng lên. Xin lưu ý là trước đó TQ đã trang bị cho VM trung đoàn pháo binh và đoàn xe vận tải, chứ không phải VM hoàn toàn vận chuyển bằng xe đạp và pháo có được do tự chế. Bộ đội VM còn sang TQ để huấn luyện pháo binh.

Tham gia trận ĐBP, VM có khoảng 5 đại đoàn, với khoảng 50 ngàn lính. Tư lệnh mặt trận là Võ Nguyên Giáp. Tổng cố vấn là Vi Quốc Thanh.
LH Pháp có khoảng 15 ngàn quân đồn trú, trong đó có khoảng hơn 1000 lính dân tộc Thái (QGVN). Chỉ huy là tướng De Castries. Ông này được phong tướng ngay tại trận địa, trước khi trận chiến nổ ra, có lẽ là bắt chước phát xít Đức đã từng phong thống chế cho 1 viên tướng Đức đang bị quân LX bao vây, với lý do là thống chế thì sẽ không bao giờ đầu hàng! Thực tế thì cả 2 đều phải đầu hàng!

VM đã từng kéo pháo vào trận địa, xong lại kéo ra với lý do (của phía VN) là thay đổi chiến thuật “đánh nhanh, thắng nhanh” theo chiến thuật biển người của cố vấn TQ thành “đánh chắc, tiến chắc” của Võ Nguyên Giáp. Phía TQ lại cho ý đó là của cố vấn TQ đề ra! Cho dù đó là ý kiến bên nào, thì nó cũng thể hiện sẽ thiếu thống nhất và không chuyên nghiệp của phía VM, do việc kéo pháo vào và kéo pháo ra là rất tốn kém do địa hình hiểm trở. Hơn nữa, VM có 1 thuận lợi là Vi Quốc Thanh đã chuyển cho họ bản kế hoạch Navarre do tình báo TQ có được.

Cuộc tấn công bắt đầu vào ngày 13/3/1954 và VM chiếm được 2 tiền đồn xa nhất ngay trong ngày đầu tiên. Cách đánh của VM là đưa pháo lên các quả núi bao quanh lòng chảo cho vào các hầm pháo, chỉ thò nòng pháo ra, ngụy trang kín, nên khó bị phát hiện. Với lợi thế pháo ở trên cao, trong hầm ở các sườn núi nên VM khống chế được bầu trời khiến Pháp không thể tiếp vận được cho trận địa, buộc phả thả dù tầm cao, thiếu chính xác.

Đồng thời, VM cho đào giao thông hào vây quanh các cứ điểm, thắt chặt dần vòng vây. Khi có thể áp sát thì họ dùng bộc phá đánh tan lớp rào thép gai rồi tấn công bằng bộ binh.

Không quân Pháp lúc đó khá yếu, chỉ có khoảng hơn 100 máy bay ở VN có thể huy động cho chiến dịch. Đó là lượng máy bay rất ít nên dễ dàng bị pháo của VM khống chế. Trong khi đó, vào những ngày cuối chiến dịch, VM còn được tranh bị cả H6, là dạng hỏa tiễn nhiều nòng (kiểu Cachiusa) của LX, nên pháo binh rất mạnh để chi phối toàn bộ chiến trường.

Có thể so sánh, những năm 1971, 1972 nếu kể cả Không quân Mỹ thì tổng cộng số máy bay tại miền nam VN có thể gấp vài chục lần số máy bay Pháp tại Đông dương năm 1954.

Quân Pháp không có đủ tiếp vận, cộng với vòng vây giao thông hào của VM ngày càng siết chặt, nên đã phải đầu hàng vào ngày 7/5. 11 ngàn quân Pháp được cho là đã đầu hàng, trước đó, hơn ngàn lính Thái đã ra hàng, trên 2,000 bị giết chưa kể trên 2,000 mất tích, VM thiệt hại khoảng 10,000 người.

Nguyên nhân thất bại của Pháp

Có khá nhiều nguyên nhân, vì bài viết đã dài nên mình chỉ nêu ý chính. Đó là do Navarre đã chủ quan, không ngờ VM có thể đem quá nhiều pháo vào trận địa, trong khi không quân của ông ta lại quá yếu.

Tuy có biết là TQ viện trợ rất nhiều cho VM, nhưng Navarre lại không ngờ viện trợ lại nhiều thế và VM có thể vận chuyển được với địa hình hiểm trở. Ngoài ra ông ta cũng không ngờ VM có thể vận chuyển bằng sức người 1 lượng hàng hóa lớn như vậy (phục vụ 50ng lính) trong khi phía Pháp chỉ có thể dùng máy bay để vận tải.

Phía Mỹ đã không hỗ trợ không quân bằng cách ném bom B29 như thỉnh cầu của Pháp. Thậm chí Mỹ cũng đã từng có kế hoạch ném bom nguyên tử xuống ĐBP. Nếu có bom nguyên tử, lịch sử đã rẽ theo hướng khác.

VM có lợi thế là Mao có thể hỗ trợ mọi thứ mà không cần thông qua quốc hội, trong khi Pháp và Mỹ thì lại không thể thế. Thời điểm đó, quốc hội Pháp có luật hạn chế quân dịch, gây khó khăn cho việc tăng quân và không quân Mỹ tham chiến thì phải thông qua QH.

Ngoài ra thì yếu tố thời tiết nóng ẩm cũng là nguyên nhân khiến quân Pháp không chịu đựng nổi khi bị vây hãm dài ngày mà thiếu thốn tiếp vận.

Về mặt chính trị, HĐ Geneva bắt đầu diễn ra trước khi trận đánh kết thúc, điều đó khiến cho VM càng quyết tâm đánh mạnh để giành lợi thế đàm phán.

Về tình báo, VM có lợi thế là nắm được kế hoạch Navarre trong khi Navarre và De Castries lại không có đủ thông tin về VM vì thế mà coi thường họ.

Hệ quả

Trận ĐBP thắng lợi khiến VM đang từ đạo quân chân đất được thế giới biết đến và có được lợi thế vượt trội trên bàn đàm phán HĐ Geneva. Tuy nhiên, sự vượt trội đó lại dành cho phía TQ nhiều hơn. Về HĐ Geneva, mình sẽ viết cụ thể trong stt khác vào dịp kỷ niệm ngày ký HĐ trong tháng 7 tới.

CỐ VẤN VI QUỐC THANH VÀ TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ

Có mấy bạn hỏi mình về vai trò thật sự của tướng Giáp trong trận ĐBP. Mình không biết trả lời thế nào cho phải nên sẽ đăng tài liệu của phía TQ nói về đồng chí tổng cố vấn Vi Quốc Thanh trong trận ĐBP được đăng báo Tre online. Mọi người tự đánh giá vai trò của từng người, đừng vu cho mình là thân Tàu hay PĐ. Vì tài liệu dài nên mình chỉ trích đăng.

Về việc kéo pháo ra và kéo pháo vào

Vấn đề này mình vẫn đặt câu hỏi về lý do thật sự. Lúc mới kéo pháo vào lần 1 với kéo pháo vào lần 2 thì tương quan lực lượng 2 bên có gì khác nhau đâu? Vậy lần 2 có lợi thế gì hơn lần 1? Sao để đảm bảo chắc thắng lại cần kéo pháo ra?
Việc ra vào đó nói chính xác là đánh muộn chứ không phải là chậm, vì lùi gần 2 tháng cơ, 25-1 thành 13-3. Còn đánh nhanh hay chậm nó thể hiện ở việc đánh biển người hay dùng giao thông hào vây dần dần. Nếu dùng cách đó ngay từ đầu thì có sao đâu?

Theo tài liệu của TQ thì lý do là dùng đại đoàn 308 đánh Thượng Lào để lôi kéo bớt quân Pháp từ ĐBP ra. Nhưng thực ra hiệu quả cũng không rõ vì VM cũng mất 1 đại đoàn kéo sang Lào rồi quay lại. Vì thế nên tương quan lực lượng trước và sau cũng không thay đổi đáng kể.

trích dẫn:

Theo tác giả bài báo, Trần Vũ:

Phần quan trọng trong tường thuật của Pomonti là câu hỏi về việc kéo pháo ra khỏi thung lũng, lui ngày tấn công đã ấn định 25 tháng 1 sang 13 tháng 3-1954. Võ Nguyên Giáp trả lời bằng Pháp văn: “Le chef de nos conseillers chinois s’était prononcé pour une attaque rapide. Je donne l’ordre de retirer les troupes, y compris l’artillerie. La décision la plus difficile de ma carrière de commandant en chef.” (Cố vấn trưởng Trung quốc muốn đánh nhanh. Tôi ra lệnh rút quân ra, kể cả pháo binh. Là quyết định khó khăn nhất trong binh nghiệp Tổng chỉ huy của tôi.)

Trong chương Quyết chiến Điện Biên Phủ (trung), Vu Hóa Thầm cho một phiên bản khác: Chính Vi Quốc Thanh lấy quyết định hoãn tấn công và thay đổi phương thức đánh nhanh, thọc sâu, giải quyết chiến trường “nở hoa từ trung tâm” bằng cách áp sát, “bóc măng” từng lớp. Đâu là sự thật?

Lui ngày tấn công, như thế không thay đổi chung cuộc. Với công sự không đủ sức chịu pháo, không đường bộ tiếp tế, khả năng không trợ kém, mười ngàn binh sĩ Liên hiệp Pháp tại Mường Thanh không có lối thoát giữa rừng núi vây bọc.

Nhưng như vậy, thì vì sao Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh bất ngờ lui tấn công một tuần trước khi khai trận?

Chính vì Hội nghị Bá Linh bắt đầu ngày 25 tháng 1-1954, là ngày ấn định khai chiến ban đầu. Anh, Pháp, Nga, Hoa-Kỳ ngoài bàn đến vị trí của Đức sau thế chiến, còn tìm cách giải quyết “vấn đề Đông Dương”. Nga-Sô yêu sách thành công sự tham gia của Trung cộng trong vòng đàm phán thứ nhì sẽ diễn ra vào tháng 4-1954 tại Genève. Chính đây mới là nguyên nhân lui tấn công sang giữa tháng 3 của Võ Nguyên Giáp (hoặc Vi Quốc Thanh). Chính từ lúc này Bắc Kinh sẽ gia tăng viện trợ tối đa cho Việt Minh để Chu Ân Lai đến Genève trong thế thượng phong. Nếu chiến tranh là cánh tay nối dài của chính trị, như Clausewitz định nghĩa, thì một quyết định quan trọng như vậy phải do Mao gửi công điện cho Vi Quốc Thanh hoặc Hồ Chí Minh hoặc Trường Chinh (tổng bí thư kiêm tổng quân ủy trung ương) yêu cầu Võ Nguyên Giáp trì hoãn. Cả Mao và Hồ Chí Minh đều cần biết kết quả hội nghị Bá Linh diễn ra cuối tháng Giêng.

Huyền thoại “kéo pháo ra”, trên thực tế cũng không cần thiết. Vì cho đến kết thúc, các tiền sát viên pháo binh Pháp và Phi đoàn Quan sát Pháo binh Bắc phần đã không xác định được vị trí pháo Việt Minh. Đại bác 105 ly của sư đoàn nặng 351 đều đặt trong hang núi, ngụy trang và kéo ra khi bắn.

(Trần Vũ)

Hết trích

Về cách đánh giao thông hào để siết chặt vòng vây

Trích dẫn tư liệu TQ:

Quân địch đóng giữ Ðiện Biên Phủ bố phòng nghiêm ngặt, công sự kiên cố hỏa lực mạnh mẽ, làm thế nào mới có thể chia cắt bao vây địch, nuốt gọn từng miếng một? Đó là vấn đề Vi Quốc Thanh ngày đêm suy nghĩ. Vi Quốc Thanh có kinh nghiệm tác chiến phong phú vì đã làm Tiểu đoàn trưởng công binh thời kỳ trường chinh, nghĩ đến biện pháp thao tác áp sát và hào sâu tiếp cận địch. Tức tổ chức bộ đội đào hào sâu, lợi dụng hào sâu chia cắt, bao vây, áp sát cứ điểm địch. Sau đó bất ngờ tấn công. Như vậy có thể giảm thương vong bộ đội, lâu ngày đánh chắc, thắng chắc. Mai Gia Sinh cũng tán thành phương pháp này. Vi Quốc Thanh nói: “Hãy bàn với các cố vấn xem sao”.

Lúc này, vừa may cố vấn đại đoàn 308 Vu Bộ Huyết đến Ban chỉ huy báo cáo tình hình. Vu Bộ Huyết báo cáo tóm tắt tình hình đại đoàn 308 tác chiến ở Thượng Lào. Vi Quốc Thanh hỏi đồng chí: “Ðồng chí có cách gì đánh Ðiện Biên Phủ không?”. Vu Bội Huyết nói: “Tôi nghĩ có thể dùng biện pháp áp sát. Tôi và Vương Thừa Vũ (đại đoàn trưởng 308), Lê Quang Ðạo (chính uỷ 308) sau khi từ Thượng Lào trở về, ngày nào cũng tâm niệm làm thế nào để gặm cục xương cứng Ðiện Biên Phủ này. Tôi nêu ra trước biện pháp này, được các đồng chí ấy đồng ý, để bộ đội làm thí nghiệm trong ruộng lúa. Họ cảm thấy biện pháp này được, chúng tôi lần lượt báo cáo lên”. Mấy ngày hôm nay, Vi Quốc Thanh lại mắc bệnh đau đầu, trên trán mang một máy giải nhiệt bằng nhôm, tinh thần mệt mỏi. Lúc này đồng chí phấn khởi đứng lên nói không ngớt lời: “Thế thì tốt rồi! Ðồng chí nói tỉ mỉ xem nào”. Tiếp đó, đồng chí lại tập trung tinh thần lắng nghe báo cáo tỉ mỉ của Vu Bộ Huyết trong lòng đã nắm chắc.

Ngày hôm sau, Vi Quốc Thanh chính thức đưa ra kiến nghị nói trên với Võ Nguyên Giáp. Võ Nguyên Giáp phấn khởi tiếp nhận, chỉ nêu ra, quân đội VN ngoài số ít công binh ra, lâu nay chưa trang bị công cụ thao tác áp sát, đó là một khó khăn thực tế.

Vi Quốc Thanh điện gấp cho Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, yêu cầu nhanh chóng điều động số lượng lớn cuốc xẻng để đáp ứng nhu cầu khẩn cấp. Bộ Tổng Tham mưu quân đội VN tuân theo chỉ thị của Võ Nguyên Giáp vạch ra kế hoạch công trình xây dựng toàn bộ trận địa và truyền đạt cho bộ đội. Vi Quốc Thanh triệu tập họp cố vấn các đại đoàn, yêu cầu họ giúp bộ đội tổ chức thực hiện. Ðồng chí còn kết hợp tình hình địch trước mắt, giới thiệu với phía Việt Nam kinh nghiệm tác chiến công kiên của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giúp giải quyết các vấn đề chiến thuật cụ thể, để tăng thêm niềm tin thắng lợi cho bộ đội.

Hết trích

Như vậy, theo tư liệu TQ thì cả việc thay đổi cách đánh lẫn việc sử dụng giao thông hào để bao vây đều là ý tưởng của Vi Quốc Thanh! Thậm chí cuốc xẻng cũng là của TQ viện trợ. Khi trận chiến diễn ra, VQT cũng cố vấn rất nhiều cho VNG.

Anh Tô Vĩnh Diện đã chết do lấy thân mình chèn pháo đúng vào đợt kéo pháo ra. Anh là nạn nhân của việc thay đổi cách đánh. Nhưng người ta biến thành tấm gương anh hùng mà quên mất chuyện này!

Bổ sung:

Anh em bò đỏ cứ thấy động đến tướng Giáp là lao đầu vào húc. Nên nhớ, đây là tư liệu TQ, không phải mình nghĩ ra. Tất nhiên đúng hay sai thì phải phân tích.

Anh em đã bao giờ tự đặt câu hỏi: Tại sao lại phải rút cả quân lẫn pháo ra chờ 1 tháng rưỡi? Lý do được nêu ra trên báo chí đều rất không rõ ràng, chỉ chung chung là vì thấy chưa chắc thắng! Chưa có phân tích nào bằng số liệu cụ thể là tấn công sau sẽ chắc thắng hơn trước. Ví dụ vì quân sẽ đông hơn, pháo nhiều hơn…

Còn việc thay đổi chiến thuật đánh nhanh kiểu biển người thành giao thông hào thì không cần rút quân và pháo ra đâu mà vẫn bố trí lại được.

Có bạn bảo rút ra để ngồi nghĩ cách đánh mới! Lý do đó là thật thì nó có vẻ…ngu ngu. Giống đi thi thấy bài khó thì xin ra ngoài ngồi uống nước 1 tiếng rồi vào làm tiếp!

Lý do thuyết phục nhất đúng như ở stt đã viết. Dời ngày tấn công là do lúc đó hội nghị Berlin khai mạc, hội nghị này quyết định là sẽ tổ chức hội nghị Geneva vào tháng 4. Nên nhớ hội nghị Geneva ban đầu là để bàn về chiến tranh Triều Tiên, mà TQ là nhân vật chính. Vì thế nên TQ cần có ưu thế trên bàn đàm phán bằng trận ĐBP.

Thực tế cho thấy, cuộc họp về Triều Tiên thất bại, người ta quay sang họp về Đông Dương và trận thắng ĐBP đã tạo ra kết quả của hội nghị như đã thấy.

Tuy nhiên, nếu lý do chính trị này là đúng, thì nó phải xuất phát từ TQ, nhưng Vi Quốc Thanh chỉ là trẻ trâu, quyết định phải từ Chu Ân Lai hay Mao. Vì TQ mới có lợi ích chính ở đây.

HẬU ĐIỆN BIÊN PHỦ

Đây là những thông tin mà phía VM giấu nhẹm, thậm chí khi dịch sách của sử gia phương Tây thì cũng cắt xén. Toàn bộ thông tin bên dưới là mình copy.

Kiểm duyệt ngay cả địa ngục

Trong bản dịch Điện Biên Phủ – Một góc địa ngục của Vũ Trấn Thủ, Nxb Công An Nhân dân 2004, Hữu Mai, là người ghi lại hồi ức của Võ Nguyên Giáp, viết:

‘‘Nhân dịp kỷ niệm 50 chiến thắng Điện Biên Phủ, “Điện Biên Phủ – Một góc địa ngục của Bernard Fall” đã đến với người đọc Việt Nam. Tôi coi đây là một công trình trung thực, đầy đủ nhất của phương Tây viết về Điện Biên Phủ. Cuốn sách sẽ giúp cho người đọc thấy và hiểu được hầu như mọi diễn biến, con người ở phía bên kia, một sự bổ sung tuyệt vời cho những cuốn sách của chúng ta về Điện Biên Phủ. Tôi nghĩ đây cũng là dịp để bày tỏ lòng biết ơn một người đã đứng bên chúng ta trong suốt cuộc trường chinh giành tự do, đã ngã xuống trên chiến trường như một chiến sĩ, mà chúng ta chỉ biết tới một cách muộn màng, đó là nhà báo, nhà sử học, người anh hùng Bernard Fall. Tôi cũng nghĩ đây là lời cảm ơn chân thành gửi tới chị Dorothy Fall, người đã luôn luôn là trợ thủ đắc lực của chồng trong cuộc đấu tranh, người đã không ngừng gắn bó với Việt Nam.’’

Hữu Mai bày tỏ lòng tri ân của dân Việt mà ấn bản Việt ngữ từ bản Pháp văn Un Coin d’Enfer của Michel Carrière là lời cảm ơn chân thành gửi đến quả phụ Dorothy Fall. Một Dorothy mà Bernard Fall đã âu yếm ghi lên nền địa ngục: “Tặng Dorothy đã sống ba năm dài cùng những bóng ma Điện Biên.” (À Dorothy qui vécut trois longues années en compagnie des fantômes de Dien Bien Phu).

Một Dorothy đã hy sinh trong cô độc, trong âm thầm lặng lẽ nuôi con, cho chồng sang Việt Nam khảo sát chiến tranh rồi cán mìn nổ tan xác.

Lời cảm ơn chân thành này ra sao?

Trang 207, Bernard Fall viết: ‘‘Về phía Việt Minh, họ cũng phải trả giá đắt cho trận đồi “Gabrielle”. Theo ước tính của các phi công quan sát Pháp, kẻ thù phải thiệt hại trên 1000 tử thương và có thể từ 2000 đến 3000 bị thương, và các tổn thất này thuộc các đơn vị thiện chiến nhất của đối phương. Qua kiểm thính điện đài của địch, Giáp đang phải khẩn cấp lấp đầy những lỗ hổng binh sĩ trong các đơn vị…’’ (Du côté du Vietminh, la bataille pour “Gabrielle” a aussi couté cher. Selon les estimations des observateurs aériens francais, l’ennemi a perdu vraisemblablement plus de 1000 tués et a eu peut être de 2000 à 3000 blessés, et cela dans certaines des meilleures unités qu’il possède. D’après les écoutes francaises du trafic radio ennemi, Giap a besoin de combler d’urgence les vides creusés dans ses rangs…)

Bản Việt ngữ của Vũ Trấn Thủ, trang 329: ‘‘Về phía Việt Minh, họ cũng phải trả giá đắt cho trận “Gabrielle”. Qua theo dõi điện đài của địch, người ta thấy Giáp đang phải gấp rút lấp lại những lỗ hổng trong các đơn vị…’’
Không dịch: “Theo ước tính của các phi công quan sát Pháp, kẻ thù phải thiệt hại trên 1000 tử thương và có thể từ 2000 đến 3000 bị thương, và các tổn thất này thuộc các đơn vị thiện chiến nhất của đối phương. “

Trang 244, Bernard Fall viết: ‘‘Hai chiến xa hư hại nhẹ vì đạn rốc kết, nhưng đến 15 giờ khi trận ấu đả kết thúc, lính nhảy dù đứng trước một cảnh tượng phi thường. Kẻ thù tháo lui trong hỗn loạn và các đơn vị Pháp làm chủ trận địa. Thêm nữa thi thể của 400 xác Việt Minh nằm đầy mặt đất. Hai đại bác 57 ly, 5 đại liên cao xạ 12 ly 7, 2 trọng liên 12 ly 7 khác, 2 súng phóng rốc kết, 14 trung liên và hơn 1000 vũ khí cá nhân còn nguyên vẹn rơi vào tay quân nhảy dù.’’(Deux des chars sont légèrement endommagés par des roquettes, mais à 15 heures, la bagarre terminée, les parachutistes se trouvent devant un spectacle étonnant. L’ennemi se repli en désordre et les francais sont maitres du champ de bataille. Par ailleurs les corps de 400 Vietminh jonchent le sol. Deux canons de 57, 5 mitrailleuses de 12,7 armes antiaériennes, 2 autres mitrailleuses de 12,7, 2 lance-roquettes, 14 FM et plus de 1000 armes individuelles tombent intacts entre les mains des parachutistes.)

Bản Việt ngữ của Vũ Trấn Thủ, trang 387: ‘‘Hai chiến xa bị đạn rocket địch bắn hư hại nhẹ nhưng đến 15 g, khi trận ấu đả đã kết thúc, quân Pháp đã làm chủ trận địa thu được 2 khẩu pháo cao xạ 57 ly, 5 khẩu trọng liên cao xạ 12.7 ly, 2 khẩu trọng liên 12.7 ly khác, 2 súng rocket, 14 trung liên và hơn 1000 vũ khí cá nhân khác. ’’

Không dịch: “Kẻ thù tháo lui trong hỗn loạn và thi thể của 400 xác Việt Minh nằm đầy mặt đất. “

Những ai biết Pháp văn đều dễ dàng nhận ra vô vàn những đoạn bị cắt cúp, biên tập, cắt xén hoặc thay chữ, trong mục đích làm lợi cho Việt Minh và thêm hào quang cho Võ Nguyên Giáp. Nhưng vô liêm nhất, là chương 11, chương “Kết thúc”(La Fin) dài 39 trang chữ nhỏ trong bản Pháp văn, sang đến bản tiếng Việt chỉ còn đúng 3 trang rưỡi, co chữ to. Vũ Trấn Thủ chú thích: “Tới đây là hết diễn biến của trận Điện Biên Phủ. Tiếp sau là vài đoạn nói về những diễn biến sau trận đánh. Vì khuôn khổ cuốn sách có hạn, chúng tôi mạn phép tác giả và độc giả không dịch những đoạn này mà tiếp theo ngay vào chương 12: Lời bạt.”

Vì sao không dịch tiếp?

Vì các đoạn sau Bernard Fall viết về thương binh, tù binh, chính sách cải tạo nhồi sọ cùng sự tàn ác trong các trại giam Việt Minh. Như trang 521 Fall ghi lại, từ lời kể của các tù binh thả về, cảnh các binh sĩ Lê dương gốc Đức bất chấp quản giáo bắt hát Quốc tế ca và phải vỗ tay khi ban Tuyên giáo chiếu phim, đã đồng loạt đồng ca “Ich Hatt’einen Kameraden, Einen bess’ren findst du nicht..” (Tôi có những đồng đội, anh không thể tìm thấy những bạn tốt hơn..). Trang 523, Fall kể lại việc y sĩ trung úy Jean-Louis Rondy, của tiểu đoàn 1 Nhảy dù Lê dương đã chứng kiến một thương binh cưa hai chân đã phải bò trườn lê lết trên hai tay và trên hai khúc đùi về đến tận trại giam Tuần Giáo, cách Điện Biên Phủ 83 cây số, sau đầu hàng. Tất cả những thương binh nặng đều tử vong vì không được chăm sóc. Trên những trang bị kiểm duyệt, Fall đưa ra số liệu: Khi chiến tranh chấm dứt, Việt Minh trao trả 10,754 binh sĩ Liên hiệp Pháp trên tổng số 36,979 bị bắt từ 1946, tức 28.5% (*). Riêng đối với tù binh Điện Biên, trao trả 3,920 trên số 11,721 hàng binh ngày 7 tháng 5-1954, tức 33.5%. 7,801 người lính còn lại, chết hoặc không tin tức. Là lý do vì sao Vũ Trấn Thủ ngưng dịch.

Đoạn cuối của một tác phẩm, bao giờ cũng là đoạn quan trọng nhất làm nên dư âm của tác phẩm ấy. Trong phần kết luận (L’Épilogue mà Vũ Trấn Thủ dịch là Lời bạt), 21 dòng chữ cuối cùng bị cắt đi, chỉ vì Fall ghi lại sự việc 24 khu trục cơ F-105 và Skyhawk A-4 đã ném 29 tấn bom xuống Điện Biên 11 năm sau, ngày 2 tháng 7-1965 mà cao xạ Bắc Việt không bắn trúng một chiếc máy bay Mỹ nào. Vì sao kiểm duyệt? Vì chạm tự ái?

Những nhát chặt bằng dao phay khiến đánh giá của Hữu Mai “Tôi coi đây là một công trình trung thực, đầy đủ nhất của phương Tây viết về Điện Biên Phủ’’ đầy mâu thuẫn. Càng tương khắc khi Hữu Mai biết Pháp văn và đã đọc Lời tựa của Fall: ‘‘Nếu công thức nổi tiếng “Tôi thề nói lên sự thật, tất cả sự thật, không sợ hãi và không hận thù” có một ý nghĩa, thì tôi tin rằng, người ta có thể nói một cách công bình, đó là điều tôi đã làm trong tác phẩm này.’’ Bernard Fall đi tìm sự thật và trưng bày sự thật, với những tài liệu tìm thấy, nhưng Hữu Mai và Nxb Công an Nhân dân đã đánh tráo sự thật ấy.

Hữu Mai “nghĩ đây cũng là dịp để bày tỏ lòng biết ơn một người đã đứng bên chúng ta trong suốt cuộc trường chinh giành tự do [..] Tôi cũng nghĩ đây là lời cảm ơn chân thành gửi tới chị Dorothy Fall, người đã luôn luôn là trợ thủ đắc lực của chồng…’’ Lời cảm ơn chân thành? Một món quà tàn độc và phỉ báng cho một quả phụ.

Hữu Mai, giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng, giải A Văn xuôi Hội Nhà văn, giải thưởng Nhà nước cho các tiểu thuyết Cao điểm cuối cùng, Vùng trời, Ông cố vấn, không nhắc đến cái chết của Bernard Fall vì cán phải mìn “của chúng ta” khi theo Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ hành quân Thừa Thiên.

Thierry Bouzard trên tập san Monde et Vie, số tháng 4-2009, đưa ra những thống kê: “Tỷ lệ tử vong tổng quát trong trại giam Việt Minh là 69.04%. Mức tử vong tù binh gốc Pháp là 59.5%, cao hơn tỷ lệ tử vong trong các trại tập trung Đức Quốc xã, như trại Buchenwald 37%. [..] Tù binh VN thuộc quân đội Pháp tử vong 90% trong những trại giam này. Việt Minh thả 860 lính Việt trên số 14,060. Riêng đối với 9,404 tù binh thuộc Quân đội Quốc gia mà Giáp gọi là Ngụy, duy nhất 157 tìm lại tự do.’’ (Face à la Mort: Camps d’Extermination du Viêt-Minh).

QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN VỀ CHIẾN DỊCH ĐBP

Mấy hôm trước mình đăng stt về Điện Biên Phủ, chủ yếu là trích dẫn tư liệu từ các nguồn khác nhau, bao gồm cả nguồn lộn lề để rộng đường dư luận, rất ít nêu quan điểm cá nhân. Nhưng anh em bò đỏ vào tấn công cá nhân mình như thể mình là tác giả của những tư liệu đó. Đến stt này, mình mới nêu quan điểm cá nhân về các tư liệu đó nhân chuyện bạn Kieu Mai Son viết stt phản biện. Đây cũng là cmt phản biện của mình ở bên đó. Đây cũng là quan điểm chung của mình khi nghiên cứu lịch sử, đó là phải hoài nghi tất cả và luôn phải động não xem người viết (nguồn dẫn) lúc đó ở vị trí nào, họ có bị áp lực phải viết sai, viết sai thì dựa trên quan điểm nào…? Nói chung là luôn phải vận dụng tư duy của luật sư khi đọc sách mà nguy cơ bịa đặt là cao. Anh em phe đỏ nên nhớ là sách chính thống của mình do nhà nước phát hành hiện đang nhiều gấp 10 lần sách lộn lề nhé. Mình đã và đang dùng tư liệu chính thống để phản biện là chính.

——————————–
Ta tự khen ta, Tàu tự khen Tàu là chuyện đương nhiên. Không thể lấy sách ta để bác bỏ Tàu và ngược lại, vì bên nào chả có xu hướng tự nâng bi bên mình. Làm gì có chuyện ta thì thật thà, Tàu thì xảo quyệt đâu. Cùng 1 lò ra cả, như nhau thôi.

Vì thế nên muốn biết chuyện nào là thật, chuyện nào là giả, thì người đọc phải tự suy luận bằng logic thôi. Những vấn đề này khả năng thật là rất cao, vì nó hợp logic:

1. Pháo binh là yếu tố then chốt để tạo nên chiến thắng là do TQ viện trợ và huấn luyện. Ta chỉ kéo pháo bằng tay vào trận địa có mấy chục km cuối khi không còn đường.

2. Về chiến thuật như đào hầm cho pháo hay vây bằng giao thông hào, ta làm quái có kinh nghiệm gì. Phải có cố vấn Tàu mới dám quyết.

3. Tàu cung cấp hơn 600 xe tải chở vũ khí, quân nhu, lương thực. Điều này ta cũng xác nhận. Góp phần quan trọng cho chiến thắng.

4. Ta là bên bỏ ra nhân lực để chiến đấu và vận chuyển vũ khí , quân nhu, nhưng chủ yếu là từ Tuần Giáo vào trận địa. Đoạn đường còn lại vẫn có cơ giới vận chuyển cùng không phải hoàn toàn là dân công dùng xe đạp. Ta có hơn 600 xe tải cơ mà.

Còn những chi tiết như đánh nhanh hay chậm, ai chỉ huy đánh…thì ta hay Tàu cũng không quan trọng lắm. Vấn đề là 2 bên phải thống nhất được thì mới đánh được. Tức là 2 bên đều có trí tuệ trong đó.

Ta giúp Tàu đánh Tưởng thì ăn thua mẹ gì so với Tàu giúp ta.
Một sự thật hiển nhiên là trong HĐ Geneva Tàu là đạo diễn toàn bộ. Ta chả ngu và dễ bị lừa thế đâu, đó chính là bằng chứng chứng tỏ công sức của Tàu trong việc đánh thắng Pháp là rất lớn, nên nó mới có quyền áp đặt. Nếu công ta là chính thì ta sợ gì mà không bật lại nó?

Xin lưu ý 1 chi tiết là ông Giáp cũng muốn đánh tiếp chứ không ký HĐ Geneva, nhưng sau khi phân tích thì cần ít nhất 3 năm với điều kiện TQ vẫn viện trợ đầy đủ. Nhưng Chu Ân Lai phản đối vì TQ muốn “nghỉ ngơi, dưỡng sức”. Thế nên buộc phải ký và theo ý của Chu.

—————

Kieu Mai Son: người lính E36 đã kể với E trưởng về việc đào hào ở quê. Từ đó E trưởng 36 đã cho áp dụng.

—————–
DQC cmt:

Tại sao 100% hồi ức của bộ đội ta đều phủ nhận (hay hạ thấp) vai trò của TQ? Rất dễ hiểu, vì ta với TQ giống nhau ở chỗ là toàn quân phải nói theo chỉ đạo chung, đố bố nào dám phát biểu lộn lề, may ra ngoài quán bia các bố mới thực sự là chính mình thôi.

Thế nên bác bỏ sách Tàu mà dùng sách ta thì cực kỳ hài hước. Chỉ có cách duy nhất là dùng logic để phân biệt đúng sai. Ngoài ra có thể tham khảo tư liệu của Pháp, những vấn đề mà Pháp có thể biết. Từ nhiều nguồn khác nhau kết hợp với tư duy logic thì mới có thể tiệm cận được sự thật. Chính ông chủ tút còn bóc mẽ các ông bộ đội chém gió phét lác đầy ra. Lính thì phét kiểu lính, tướng thì phét kiểu tướng, không thể tuyệt đối tin ông nào, khi mà việc tô hồng chiến thắng là chủ trương chung của toàn đảng, toàn quân.

—————–

Còn các bạn chỉ hay chém gió dựa theo lòng yêu nước và hồi ký, hồi ức của bộ đội mà không ai kiểm chứng được.
Trong 1 bài báo khác nói tướng Phạm Kiệt cố vấn cho ông Giáp dẫn đến quyết định đánh chậm. Ông ấy nói là cách bố trí pháo kiểu dã chiến là không ổn…Lúc đầu em tưởng ông ấy là bộ đội, là pháo binh, hay gì đó nên hiểu biết trận địa pháo. Ai ngờ tìm hiểu ra thì ông ấy là…công an, lúc đó phụ trách Cục bảo vệ!

Thời điểm đó, pháo binh là rất mới với bộ đội ta, mà sử dụng pháo cần phải học, tính toán chán mới bắn được, chứ không như súng cá nhân. Thế mà 1 ông công an có thể tư vấn về trận địa pháo khi tấn công tập đoàn cứ điểm!
Bây giờ mới nghe thêm ông bộ đội nhà quê tư vấn về trận địa chiến hào nhờ kinh nghiệm đào mương ở quê! Thật sự kinh ngạc với đội quân thánh Gióng.

Anh em lưu ý là cuốc xẻng công binh cũng là Tàu cấp. Có 1 bác trên 70 tuổi xác nhận bên nhà mình là có người nhà đem cái xẻng Tàu về làm kỷ niệm. Như thế mà nhận công hết, đúng là vô ơn.

——————————-
Kết luận:

Theo mình, thời điểm hiện tại thì sách vở, tư liệu rất nhiều, không như thời bế quan tỏa cảng, nhất là sách ngoại ngữ, ai cũng có thể đọc. Nhưng vấn đề cốt lõi là cách xử lý thông tin, tức là cần kiến thức nền và khả năng phân tích logic, xâu chuỗi thông tin, khả năng này là không phổ biến với người Việt, đặc biệt là với anh em bò đỏ, vì họ đã bị tê liệt khả năng phản biện. Vì thế cãi nhau với bò đỏ rất vui, chỉ được vài cmt là anh em bí, quay ra chửi!

Leave a comment