CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Phân tích của anh Dương Quốc Chính

Mình viết ở đây những kiến thức tổng quan nhất về chiến tranh Việt Nam, chủ yếu để dành cho những người anh em thiện lành và bò đỏ, trình bày dưới dạng hỏi đáp. Tuy đây là kiến thức cơ bản, nhưng mình tin là đa số các anh em đang hiểu sai do bị nhồi sọ.

Tên gọi của cuộc chiến?

Phía CS gọi là “Kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, diễn ra từ năm 1954-1975.

Cách đặt tên kể trên sai về bản chất. Phương Tây thường gọi cuộc chiến này là “Chiến tranh Việt Nam”, mình cho là trung tính và chính xác hơn. Cuộc chiến này lẽ ra phải chia làm 3 giai đoạn: 54-65, 65-73, 73-75. Quân đội Mỹ chỉ trực tiếp can thiệp quân sự trong giai đoạn 65-73. 2 giai đoạn còn lại chỉ có các cố vấn quân sự Mỹ, không tham chiến, giống hệt như các cố vấn Liên Xô, Trung Quốc…ở miền Bắc.

Phe CS thường biện bạch là họ kháng chiến chống lại sự “can thiệp” (không nhất thiết là quân sự) của Mỹ. Lý luận đó không hợp lý, vì 2 miền đều có sự can thiệp của các cố vấn nước ngoài, tại sao lại chỉ chống Mỹ cứu nước?

Đế quốc Mỹ có xâm lược VN hay không?

SGK bảo có và có ý muốn đánh đồng Mỹ với Pháp, cùng là xâm lược. Thực ra là không. Mỹ không xâm chiếm VNCH làm thuộc địa như Pháp. Mỹ chỉ can thiệp vào miền Nam như 1 đồng minh thân cận nhằm mục đích ngăn chặn làn sóng đỏ từ TQ lan tràn khắp Đông Nam Á.

Từ năm 1947-1949, khi LX can thiệp mạnh vào các nước Đông Âu mà LX đã “giải phóng” khỏi phát xít Đức để biến các nước đó thành các nước CS. Sau đó, LX hỗ trợ CS TQ đánh thắng Quốc dân đảng TQ (thân Mỹ), lập nên nước TQ CS. Người Mỹ sợ rằng làn sóng đỏ sẽ lan tràn khắp thế giới, nên đã lựa chọn VN là cái đập để ngăn chặn. Ban đầu, Mỹ đầu tư tiền cho Pháp, để Pháp tiêu diệt VM (CS) ở VN. Nhưng Pháp và đồng minh là Quốc gia VN đã chống cộng không hiệu quả, dẫn đến việc phải ký HĐ Geneva, nên Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào miền Nam VN, hi vọng là VNCH sẽ chống cộng hiệu quả hơn.

Phía CS cho là Mỹ biến VNCH thành thuộc địa kiểu mới. Đây là khái niệm do họ nghĩ ra, nó không có sự liên hệ gì với chế độ thuộc địa, vì VNCH là 1 quốc gia có chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, được quốc tế công nhận, có tham gia vào 1 số tổ chức quốc tế. Mối quan hệ giữa VNCH và Mỹ lúc đó cũng tương tự Liên Xô với Đông Âu và VN, Cuba hay TQ với VN. Đó là mối quan hệ đồng minh chiến lược. Tùy từng thời điểm mà sức ảnh hưởng của nước lớn lên nước nhỏ là ít hay nhiều.

Nguyên nhân của cuộc chiến là gì?

SGK cho là Mỹ và VNCH đã phá HĐ Geneva, không chấp nhận Tổng tuyển cử, đồng thời đàn áp những người CS miền Nam. Trước nguy cơ bị xóa sổ, phe CS cả 2 miền đã đứng dậy kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào.

Thực ra là Mỹ và Quốc gia VN (tiền thân của VNCH) có tham gia đàm phán HĐ Geneva, nhưng không hề ký HĐ. Thậm chí, phía QGVN cực lực chống đối việc chia cắt đất nước. HĐ Geneva bản chất chỉ là sự thỏa thuận giữa VNDCCH (dưới sự chỉ đạo của TQ LX) và Pháp. Thời điểm tổng tuyển cử cũng chỉ ghi chung chung là 2 năm sau ngày ký HĐ, không cụ thể về giải pháp.

Phía VNDCCH đã phá HĐ Geneva ngay từ khi vừa mới ký, thể hiện bằng việc bí thư xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã trốn không tập kết ra Bắc (theo đúng HĐ), ở lại miền Nam để viết đề cương cách mạng miền Nam. VNDCCH cũng phá HĐ thông qua việc thủ tiêu giai cấp địa chủ, thương gia bằng CCRĐ. HĐ Geneva có điều khoản cấm trả thù những người hợp tác với chính quyền cũ. Đây cũng là biện pháp khủng bố đối lập, để chuẩn bị cho tổng tuyển cử (thủ tiêu đối lập ở miền Bắc).

Cùng thời điểm, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng “tố cộng, diệt cộng”, nhưng việc này không vi phạm hiệp định, do phe CS lẽ ra đã tập kết ra Bắc hết theo HĐ. Lưu ý là địa chủ miền Bắc không phải là đối tượng phải tập kết vào Nam theo HĐ.

Vì các lý do trên nên chính quyền VNCH không chấp nhận tổng tuyển cử. Vì thế, lý do để gây chiến của phía CS là không có lý.

Vậy nguyên nhân thật sự của cuộc chiến là phía CS không chấp nhận sự can thiệp của Mỹ, lại được sự hỗ trợ của LX và TQ cũng như các nước CS Đông Âu, nên đã quyết định dùng bạo lực cách mạng để “giải phóng” miền Nam, thống nhất đất nước.

Với lý do trên, VNCH và các đồng minh chỉ bị động phòng thủ, chống lại sự tấn công của phe CS.

Bản chất cuộc chiến là gì?

Từ cách đặt tên, có thể hiểu là phe CS cho đây là 1 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, y như họ đã chống Pháp.

Thực ra, theo phân tích bên trên, vì người Mỹ không hề xâm lược VN, nên không thể nói đây là cuộc chiến chống ngoại xâm mà đây là 1 cuộc chiến ủy nhiệm. 2 nước/miền VN như những quân cờ, đánh nhau dưới sự hỗ trợ của 2 phe TBCN và XHCN. Miền Bắc thì núp dưới ngọn cờ chống ngoại xâm. Miền Nam thì núp dưới lá cờ bảo vệ thế giới tự do. Nếu 1 phe không còn hỗ trợ 1 nước VN thì cuộc chiến sẽ kết thúc vì 1 bên sẽ không đủ nguồn lực để duy trì chiến tranh.

Mỹ có thua trận không?

Dĩ nhiên là có, theo SGK. Về bản chất là không. Đúng như lời CT HCM, đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào. Tức là Mỹ chỉ rút quân, chỉ có VNCH thua thôi.

Mỹ cút vì họ thấy VNCH không còn có giá trị của 1 cái đập ngăn CS nữa, như họ kỳ vọng, kể từ khi Mỹ đã hòa hoãn được với TQ vào năm 72, TQ cũng không có ý đồ và khả năng để xuất khẩu CM ra khắp ĐNA. Hơn nữa, cuộc chiến quá hao người tốn của, nên họ rút quân. Phía CS tự sướng là đã đánh thắng đế quốc to.

Mỹ đánh nhau với VNDCCH giống thằng nhà giàu đánh nhau với thằng nhà nghèo được đại ca bảo kê. So sánh về thiệt hại giữa 2 bên thì Mỹ như công chúa phải gai, còn VNDCCH thì như thuyền chài lòi ruột. Dân Mỹ thấy lính Mỹ đánh nhau trên TV hàng ngày nên sợ quá, phản chiến ầm ầm, đòi con em họ phải về. Còn dân VNDCCH thì làm gì được biết chiến sự ác liệt ra sao. Vì “đường ra trận mùa này đẹp lắm”, thư từ từ hậu phương ra tiền tuyến thì bị kiểm duyệt, đố dám có chuyện vợ lính hủ hóa với cán bộ HTX. Thế là cứ đánh nhau thoải mái, chết bỏ, vũ khí đã có LX, TQ viện trợ.

Với bối cảnh quốc tế. Mục đích tối thượng của Mỹ là ngăn cản CS tràn lan khắp thế giới. Đối thủ quan trọng nhất của Mỹ là Liên Xô. TQ lúc đó còn yếu, nên Mỹ không coi là đối thủ chính. Vì thế, Mỹ quyết định bắt tay với TQ để cùng chống lại LX. Khi đó cuộc chiến ở VN khiến Mỹ quá hao người tốn của mà mục tiêu ngăn chặn CS khó đạt được. Nên việc bắt tay trực tiếp với TQ và rút khỏi VNCH là hiệu quả hơn, thực dụng hơn.

Về mặt kinh tế, vào đầu những năm 70, Mỹ cũng dính vào khủng khoảng kinh tế, nên việc đầu tư vào VNCH là canh bạc quá rủi ro. Nên Quốc hội Mỹ không chịu chi tiền viện trợ cho VNCH nữa.

Về mặt chính trị nước Mỹ, TT Nixon, người vẫn còn ủng hộ và hứa không bỏ rơi VNCH bị dính vào vụ bê bối Watergate, nên buộc phải từ chức. TT Ford lên thay thì làm theo lời hứa rút quân, không ủng hộ VNCH nữa. Thế là số phận VNCH đã bị định đoạt và Mỹ có được “hòa bình trong danh dự” bởi việc ký HĐ Paris và rút quân về nước.

Vậy Mỹ thắng thua thế nào?

Mỹ rút khỏi VNCH, bị tiếng xấu là bỏ rơi đồng minh, bị mang nhục với phe CS là để “thua trận” tại VN. Nên nhớ, nếu là thua trận, thì là Mỹ thua phe XHCN, chứ không phải thua mình VNDCCH. Bởi, nếu không có viện trợ, thì VNDCCH cũng sẽ chết đói chứ đừng nói là có thể đánh nhau. Nhưng anh em bò đỏ thích thủ dâm thì cứ bảo là Mỹ thua VN đi, cho nó sướng!

Nhưng đổi lại, sau chiến tranh VN, LX lại bị sa lầy ở Afghanistan, VN thì sa lầy ở Campuchia cùng thời điểm, khiến cho LX kiệt quệ về kinh tế. Cộng thêm việc LX chạy đua vũ trang với Mỹ và nền kinh tế kế hoạch đã bộc lộ mọi điểm yếu, đã khiến cho kinh tế LX không còn thể cứu vãn. Vào cuối thập niên 198x thì phe CS Đông Âu sụp đổ, sau đó là LX cũng tan rã.

Nếu Mỹ cố kiết đánh nhau ở VN thì lại bị sa lầy, mắc mưu của LX và TQ, sẽ bị suy yếu. Đó là cái giá của thất bại của Mỹ ở VN.

Vậy VN được gì sau khi đánh thắng đế quốc to?

VN lúc đó tự kiêu, mang tinh thần sô vanh, tự sướng, thế là tiếp tục rơi vào cuộc chiến với TQ và Khmer đỏ. Cái giá phải trả là bị lệ thuộc vào viện trợ của LX, bị phương tây cấm vận, dẫn đến kiệt quệ kinh tế, mất mấy chục năm.

Mấy chục năm chiến tranh VN bị hao người tốn của, hạ tầng bị tàn phá, lượng thương binh, liệt sỹ lên đến hàng triệu, là gánh nặng lớn cho ngân sách phúc lợi.

Chiến tranh khiến lòng dân ly tán, 2 phe vẫn tiếp tục chửi nhau đến tận bây giờ. Hàng triệu thuyền nhân vượt biên khiến VN thất thoát rất nhiều nhân lực.

Và còn vô số hệ lụy khác do chiến tranh gây ra.

Chiến thắng chỉ có cái lợi về mặt tinh thần và bảo vệ được sự lãnh đạo toàn diện của đảng CS. Còn toàn dân thì chịu thiệt vì kinh tế khó khăn.

Như vậy, có thể nói, đảng CS đã thắng, còn toàn dân VN thì thua. Nhìn từ phía Mỹ, họ thất bại trọng 1 cuộc chiến khu vực, nhưng lại thắng ở cuộc chiến toàn cầu.

Cơ hội chung sống hòa bình suýt có

Lần 1 mới manh nha về tư tưởng, là nhóm “Xét lại chống đảng”. Nhóm này gồm những cán bộ cấp cao của đảng và quân đội. Thậm chí là cả ông HCM và VNG cũng được cho là từng có ý tưởng “Xét lại”. Phong trào xét lại do Khruschev khởi xướng và có xu hướng muốn phe CS chung sống hòa bình, thi đua phát triển với phe tư bản. Mao cực lực phản đối Xét lại và chống Khruschev ra mặt.

Lê Duẩn bám vào TQ để quyết tâm GP miền Nam. Đen cho phe Xét lại là Khruschev bị hạ bệ, Breznhev lên thay và khôi phục lại những giá trị của Stalin, đẩy phe XHCN sâu vào cuộc chiến với Mỹ và TBCN. Thế là phe Xét lại bị hốt sạch vào tù mà không cần xử. Ông Hồ, ông Giáp phải ngả theo phe chủ chiến, đứng đầu bởi Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.

Lần 2 là vào năm 63, khi chính quyền Ngô Đình Diệm lâm vào khủng hoảng, trên bờ sụp đổ. 1 số tài liệu cho thấy là ông Ngô Đình Nhu đã tiếp xúc với phái viên của VNDCCH là Phạm Hùng để tìm kiếm cơ hội hòa bình, thoát khỏi sự kiềm tỏa của Mỹ. Mỹ biết được điều này và quyết định ra tay trước. Tuy nhiên, chưa có tư liệu nào chính thức của phía CS công nhận hay phủ nhận sự kiện này.

Sau đó, cuộc chiến VN ngày càng lún sâu do cả LX và TQ cùng ủng hộ đánh Mỹ. Nhưng cần hiểu, cả 2 nước đều không ủng hộ VNDCCH GP VNCH. Nhưng Lê Duẩn và phe nhóm miền Nam cương quyết đốt sạch cả dãy Trường sơn, không tiếc xương máu để quyết tâm GP MN. Với nghệ thuật đu dây, LD không tuân lời cả 2 đàn anh để có ngày 30-4. 2 đàn anh tuy không ủng hộ đàn em chiếm miền Nam nhưng cũng không phản đối cứng rắn, vì vậy mà cuộc chiến vẫn nhanh chóng kết thúc nghiêng về miền Bắc.

Quay lại cuộc chiến Triều Tiên, ta thấy tuy nó ác liệt nhưng chỉ trong thời gian ngắn, nên tổn thất không lớn như CT VN, sự thù hận chủ yếu do tuyên truyền chứ không phải do nợ máu. Hiện nay, 65 năm kể từ khi cuộc chiến tạm chấp dứt, những người lính tham chiến cuối cùng đã chết, họ mới có thể quay lại để bắt tay nhau.

Còn VN, những người lính tham chiến vẫn còn sống rất nhiều nên cơ hội hòa giải là chưa thể được, do sự thù hận, nợ máu và sự thiếu bao dung của phe thắng cuộc. Nếu kịch bản Triều Tiên thành công (chỉ hòa giải, chưa sáp nhập) thì VN cũng phải mất 20 năm nữa, mới có thể hòa giải.

Thống nhất mà không có hòa giải dân tộc thì vẫn vô ích. Đất nước vẫn tụt hậu và chính quyền mới vẫn không thể thu phục nhân tâm về 1 mối. Mâu thuẫn Nam Bắc vẫn tiềm tàng chỉ chực bùng phát, từ những chuyện chẳng mấy to tát như cải cách TV.

Theo mình, 1 trong những lý do chính khiến dân miền Nam ghét ông Đại là do ông ấy là con rể Lê Duẩn, kẻ đầu trò trong việc dùng bạo lực GP miền Nam.

Chiến tranh 1954-1975 trong chiến tranh lạnh trên thế giới – phân tích bởi Trần Gia Phụng

Chiến tranh 1946-1954 chấm dứt với hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai nước Việt Nam ngang theo sông Bến Hải, ở vĩ tuyến 17.

Bắc Việt Nam (BVN) là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), theo chủ nghĩa cộng sản (CS), do Hồ Chí Minh và đảng Lao Động cai trị. Đảng Lao Động tức đảng Cộng Sản Đông Dương cải danh năm 1951. Nam Việt Nam (NVN) là Quốc Gia Việt Nam (QGVN), do Bảo Đại làm quốc trưởng và Ngô Đình Diệm làm thủ tướng. Ngày 26-10-1955, QGVN được đổi thành Việt Nam Cộng Hòa, theo tổng thống chế, do Ngô Đình Diệm làm tổng thống.

Tuy VNDCCH do đảng Lao Động điều khiển, đã ký hiệp định Genève, đình chỉ chiến sự, chia hai đất nước, nhưng đảng Lao Động không từ bỏ tham vọng bành tướng chủ nghĩa CS, và ngay từ sau hiệp định Genève, đảng Lao Động liền dùng quân du kích còn cài lại ở NVN, nổi lên quấy phá khắp nơi, chuẩn bị ngày nổi dậy.

Chiến tranh lần nầy là cuộc chiến tranh bành trướng của chủ nghĩa CS xuống NVN và từ đó đe dọa các nước Đông Nam Á, kéo dài từ năm 1954 đến ngày 30-4-1975, khi quân đội BVN chiếm được Sài Gòn. Chiến tranh 1954-1975 ở Việt Nam rơi đúng vào cao điểm chiến tranh lạnh trên thế giới.
NGUỒN GỐC CHIẾN TRANH LẠNH

Chiến tranh lạnh là tình trạng tranh chấp căng thẳng giữa hai khối tư bản và cộng sản sau thế chiến thứ hai (1939-1945). Nguyên sau thế chiến thứ hai, các nước trên thế giới chia thành hai khối: 1) Thứ nhứt là Hoa Kỳ cùng các nước theo chủ nghĩa tư bản. 2) Thứ hai là Liên Xô cùng các nước theo chủ nghĩa CS. Giữa hai khối về sau phát sinh ra khối thứ ba là các nước trung lập, đứng giữa hai khối, không chống bên nào, ngoại giao với tất cả các nước trên thế giới, không kể tư bản hay CS.

Chiến tranh lạnh manh nha từ việc Liên Xô đưa quân phong tỏa thành phố Tây Berlin ngày 24-6-1948. Nguyên vào cuối thế chiến thứ hai tại Âu Châu, Đức đầu hàng ngày 7-5-1945. Đức bị chia thành ba khu vực cho ba cường quốc thắng trận là Anh, Hoa Kỳ và Liên Xô. Pháp không được xem là nước thắng trận. Anh và Hoa Kỳ ở phía tây nước Đức; Liên Xô ở phí đông nước Đức. Anh và Hoa Kỳ chia lại cho Pháp một vùng đất sát với biên giới Pháp. Thủ đô Berlin cũng được chia như thế. Berlin nằm trong lãnh thổ Đông Đức, nên các nước Tây phương muốn tiếp tế cho Tây Berlin, phải qua không phận hay đường bộ xuyên Đông Đức do Liên Xô kiểm soát.

Ngày 16-4-1948, Tây Âu thành lập khối kinh tế O.E.E.C. (Organization for Europen Economic Co-operation) gồm 16 nước là Austria, Belgium, Denmark, France, Greece, Iceland, Ireland, Italy, Luxemburg, the Netherlands, Norway, Portugal, Sweden, Switzerland, Turkey, United Kingdom.

Do tranh chấp kinh tế, nhứt là do O.E.E.C. muốn vận động thành lập thêm một khối quân sự chống Liên Xô, nên Liên Xô phong tỏa đường tiếp tế Tây Berlin ngày 24-6-1948, gây khủng hoảng Berlin. Đồng thời để đối đầu với khố O.E.E.C., Liên Xô lập khối kinh tế COMECON (Council for Mutual Economic Assistance) tháng 1-1949 gồm các nước cộng sản Đông Âu là Bulgaria, Czechoslovakia, the German Democratic Republic, Hungary, the Mongolian People’s Republic, Poland, Rumania, U.S.S.R. [Liên Xô].

Hai bên đông tây thương thảo. Liên Xô ngưng phong tỏa Tây Berlin ngày 11-5-1949. Tình hình căng thẳng Berlin tạm chấm dứt. Chiến tranh lạnh mở màn.

Hai khối tư bản và CS đối đầu nhau, tranh chấp quyết liệt trên tất cả các lãnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự, nhưng hai bên tránh đụng độ trực tiếp với nhau vì cả hai bên đều thủ đắc võ khí nguyên tử, sợ chiến tranh nguyên tử xảy ra thì cả hai bên đều thiệt hại thảm khốc.

Hoa Kỳ thử nghiệm thành công bom nguyên tử ngày 16-7-1945, thả xuống hai thành phố Hiroshima (6-8-1945) và Nagasaki (9-8-1945), khiến Nhật Bản đầu hàng ngày 14-8-1945. Liên Xô thử nghiệm thành công bom nguyên tử ngày 29-8-1949, cân bằng lực lượng nguyên tử với Hoa Kỳ. Cộng sản thành công ở Trung Hoa, thành lập chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (thường được gọi là Trung Cộng) ngày 01-10-1949, tăng cường sức mạnh cho khối CS. Mười lăm năm sau, Trung Cộng thử nghiệm thành công bom nguyên tử ngày 16-10-1964, càng làm tăng uy thế của khối CS.
CHIẾN TRANH LẠNH TẠI Á CHÂU

Trong chiến tranh lạnh, các cường quốc trong hai khối viện trợ, bán võ khí cho các phe lâm chiến tại các nước xảy ra tranh chấp nội bộ, tạo thành những điểm nóng địa phương. Tiêu biểu cho điểm nóng địa phương đầu tiên ở Á Châu với sự trợ lực và góp lửa của các cường quốc trong hai khối, là chiến tranh Triều Tiên hay Cao Ly và khủng hoảng eo biển Đài Loan.

Triều Tiên nằm ở đông bắc Trung Hoa, sau thế chiến thứ hai bị chia thànhh hai khu vực chiếm đóng ở vĩ tuyến 38. Phía bắc do Liên Xô; phía nam do Hoa Kỳ.

Tại miền nam, Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) đắc cử tổng thống lâm thời ngày 20-7-1948, và đứng đầu Cộng Hòa Triều Tiên (Republic of Korea) khi chế độ Cộng Hòa Triều Tiên chính thức được thành lập ngày 15-8-1948, thủ đô là Hán Thành (Seoul).

Tại miền bắc, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên (Democratic People’s Republic of Korea) được thành lập ngày 9-9-1949 do Kim Il-sung làm chủ tịch và đảng Lao Động (tức đảng CS) độc quyền cai trị, thủ đô là Bình Nhưỡng (Pyong-yang).

Ngày 25-6-1950, với sự hậu thuẫn của khối cộng sản, Bắc Triều Tiên (BTT) xâm lăng Nam Triều Tiên (NTT), chiếm Hán Thành. Theo lời kêu gọi của Liên Hiệp Quốc (LHQ), tướng Mac Arthur (Hoa Kỳ) cầm đầu quân đội LHQ đến giúp NTT ngày 12-9-1950, đẩy lui Bắc quân, tái chiếm Hán Thành, và vượt vĩ tuyến 38, đến sông Áp Lục (Yalu River), vùng biên giới Mãn Châu (Trung Cộng).

Ngày 26-11-1950, khoảng 250,000 quân Trung Cộng vượt biên giới, giúp BTT, đẩy lui quân LHQ xuống phía nam, chiếm Hán Thành. Đại tướng Mathew Ridgway (Hoa Kỳ) thay đai tướng Mac Arthur, cầm quân LHQ, đẩy lui quân BTT khỏi vĩ tuyến 38 tháng 1-1951. Cuộc thương thuyết bắt đầu tháng 7-1951 và hai bên ký kết hiệp ước Bàn Môn Điếm (Panmunjom) ngày 27-7-1953, lấy vĩ tuyến 38 chia hai Triều Tiên. Phía bắc là Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên (People’s Republic of Korea), thủ đô là Bình Nhưỡng (Pyong-yang). Phía nam là Cộng Hòa Triều Tiên (Republic of Korea), thủ đô là Hán Thành (Seoul).

Điểm đáng chú ý trong cuộc chiến nầy là quân LHQ lấy công làm thủ, đánh bắc thủ nam, tiến quân qua phía bắc vĩ tuyến 38 để đánh BTT, vừa đe dọa BTT, vừa chận đứng một cách hữu hiệu nguồn tiếp tế của cộng sản BTT cho quân du kích cộng sản ở NTT. Khi đó, du kích cộng sản NTT không còn được tiếp viện, không thể tiếp tục hoạt động. Hiệp ước Bàn Môn Điếm được xem là một mẫu mực để giải quyết chiến tranh 1946-1954 ở Việt Nam, đưa dến hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17.

Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ năm 1950, Hoa Kỳ gởi Đệ thất hạm đội đến bảo vệ Đài Loan (Taiwan) tức Trung Hoa Dân Quốc (THDQ), eo biển Đài Loan, hai quần đảo Kim Môn (Kinmen) và Mã Tổ (Mazu). Hai quần đảo nầy nằm cách hải cảng Hạ Môn (Xiamen), tỉnh Phúc Kiến (Fujian) của Trung Cộng khoảng 15 Km, trong khi cách bờ biển Đài Loan khoảng 270 Km, nhưng hai quần đảo nầy lại thuộc chủ quyền của Đài Loan.

Tháng 9-1954, Trung Cộng mở cuộc pháo kích hai quần đảo Kim Môn và Mã Tổ. Đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhứt. Đài Loan rất nhỏ so với lục địa Trung Cộng, nhưng lúc đó THDQ (Đài Loan) nhờ Hoa Kỳ bảo trợ, vẫn là thành viên thường trực của tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ), trong khi CHNDTH hay Trung Cộng rộng lớn hơn rất nhiều, vẫn chưa được vào LHQ.

Ngày 2-12-1954, Hoa Kỳ và THDQ ký Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương (Sino-American Defence Treaty) tại Đài Bắc (Taipei) và có hiệu lực từ ngày 3-3-1955. Trước việc Hoa Kỳ quyết chí bảo vệ Đài Loan, Trung Cộng đành chịu ngồi vào bàn hội nghị thương lượng tháng 4-1955, và cuối cùng cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhứt chấm dứt vào đầu tháng 5-1955.

VIỆT NAM ĐI VÀO CHIẾN TRANH LẠNH

Trong khi đó, sau khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt năm 1953, Trung Cộng rảnh tay ở Triều Tiên, dồn nỗ lực giúp Việt Minh và đảng Lao Động ở Việt Nam trong chiến tranh 1946-1954. Nhờ sự giúp đỡ về mọi mặt của Trung Cộng, Việt Minh và đảng Lao Động mới thành công năm 1954.

Đối thủ của Trung Cộng ở Triều Tiên là Hoa Kỳ. Trong bài diễn văn ngày 7-4-1954, tổng thống Hoa Kỳ là Dwight D. Eisenhower đưa ra thuyết domino, theo đó ông cho rằng khi một nước bị CS chiếm, thì các nước lân bang dần dần sẽ bị mất vào tay CS, nghĩa là một quân cờ domino sụp đổ, thì các quân cờ domino khác cũng sụp theo. Sau hiệp định Genève (20-7-1954) vận dụng thuyết địa lý chính trị nầy, Hoa Kỳ can thiệp vào các nước Đông Nam Á, nhằm ngăn chận sự bành trướng của CS.

Trước sự bành trướng của CS tại Á Châu, đại diện ba nước Australia (Úc), New Zealand (Tân Tây Lan), United States of America (USA) (Hoa Kỳ) họp tại San Francisco (Hoa Kỳ) ngày 1-9-1951, ký hiệp ước thành lập khối quân sự ANZUS, nhằm hợp tác phòng thủ nếu xảy ra các cuộc tấn công trên Thái Bình Dương được xem là ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh của mỗi nước và các nước khác trong khu vực. Khối ANZUS không lập lực lượng quân sự riêng, chỉ họp hằng năm cấp bộ trưởng ngoại giao để duyệt xét tình hình và họp bất thường khi một trong ba nước thành viên yêu cầu vì an ninh bị đe dọa.

Sau hiệp định Genève (20-7-1954), Hoa Kỳ vận động ký kết Hiệp ước Hỗ tương Phòng thủ Đông Nam Á (Southeast Asia Collective Defence Treaty) tại Manila, thủ đô Phi Luật Tân, ngày 8-9-1954. Từ đó ra đời TỔ CHỨC LIÊN PHÒNG ĐÔNG NAM Á (Southeast Asia Treaty Organization, SEATO), gồm các nước (theo thứ tự ABC) Australia, France, New Zealand, Pakistan, Philippines, Thailand, United Kingdom (Anh), và United States of America.

Trong phụ bản của hiệp ước, ba nước Cambodia, Lào và Việt Nam được sắp trong nhóm lãnh thổ được bảo vệ. Hoa Kỳ dựa vào phụ bản hiệp ước nầy để minh chứng sự ủng hộ của họ đối với các chế độ chống cộng ở Đông Nam Á.

Riêng NVN, Hoa Kỳ giúp đỡ tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng và củng cố Việt Nam Cộng Hòa, nhằm biến Việt Nam Cộng Hòa thành “tiền đồn chống cộng” ở Đông Nam Á. Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ khiến cho khối CS quan tâm, nhứt là Trung Cộng vì Trung Cộng e ngại sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ sẽ đe dọa đến nền an ninh của Trung Cộng. Trung Cộng càng yểm trợ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tấn công VNCH, vừa chống Hoa Kỳ từ xa, vừa thực hiện âm mưu bành trướng xuống Đông Nam Á. Thế là chiến tranh 1954-1975 ở Việt Nam từ từ đi vào chiến tranh lạnh mà chẳng được để ý.

KẾT LUẬN

Vì quyền lợi, vì tham vọng bành trướng và vì an ninh quốc gia, dựa trên chủ nghĩa chính trị, hai khối tư bản và cộng sản chống nhau trên thế giới và hậu thuẫn cho các phe lâm chiến ở khắp nơi. Có thể nói hai khối tư bản và cộng sản tương khắc nhưng tương sinh (chống nhau nhưng nhờ nhau mà phat triển). Nơi nào có các lực lượng CS gây hấn, thì các nước tư bản đến giúp đỡ theo thuyết domino. Nơi nào được các nước tư bản giúp đỡ, thĩ các nước CS kiếm cách gây hấn

Chiến tranh Việt Nam 1954-1975 nằm trong trường hợp đó.

Leave a comment