Câu chuyện về người Hoa Chợ Lớn

Họ đến đây như thế nào.

Người Hoa ở Sài gòn có khoảng 400.000 người, chiếm gần 15% dân số toàn thành phố. Sài gòn là nơi tập trung người Hoa đông nhất nước ta. Người Hoa cư trú rải rác trong nhiều quận huyện của thành phố , đông nhất là tập trung sinh sống ở các quận 5 (chiếm khoảng 45% dân số của quận), quận 11 (chiếm khoảng 45% dân số toàn quận) và các quận 10, quận 6, quận Tân Bình. Trong quá trình lịch sử xây dựng và phát triển, bà con người Hoa đã có nhiều đóng góp tích cự, to lớn và có một vị trí kinh tế-xã hội quan trọng của thành phố.

Người Hoa có mặt ở Sài gòn vào cuối thế kỷ 17. Đó là những lưu dân miền Duyên Hải – Hoa Nam của lục địa Trung Hoa, họ là những nông dân nghèo khổ, binh lính và một số quan lại phong kiến rời bỏ quê hương vượt biển tìm đất mưu sinh. Lý do rời bỏ quê hương của họ là tình trạng nghèo đói, loạn lạc bất yên, do những cuộc chiến tranh, những cuộc thanh trừng, bất phục tùng của các quan lại phong kiến, tri thức… Trên đường lênh đênh lưu lạc về phương Nam, một bộ phận lưu dân người Hoa có dừng chân, lập nghiệp nơi mảnh đất miền Nam Việt Nam, trong đó có khu vực Sài Gòn – Gia Định xa xưa. Người Hoa đến Sài Gòn-Gia Định với nhiều đợt di dân, định cư, mà một trong những đợt đông đảo, khá sớm là nhóm người của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạc Định đến Việt Nam vào năm 1679 cùng với 3.000 người, 50 chiếc thuyền xuất phát từ Quảng Đông. Đoàn người của Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đến Đà Nẵng xin chính quyền phong kiến Việt Nam cho tỵ nạn.

Nhà vua Việt Nam đã cho phép những người Hoa này đến cư trú ở miền Nam Việt Nam. Nhóm của Trần Thượng Xuyên chọn đất Trấn Biên (nay là vùng Biên Hòa) để lập nghiệp. Một bộ phận của nhóm Dương Ngạn Địch đến vùng đất Phiên Chấn (sau là vùng Sài Gòn-Gia Định) tổ chức công cuộc định cư lâu dài, thành lập làng Thanh Hà. Năm 1778 nhóm cư dân của làng Thanh Hà chuyển từ vùng Biên Hòa về hợp nhất với bộ phận cư dân người Hoa ở Phiên Trấn lúc này đã lập nên làng Minh Hương. Thành phố Chợ Lớn đã khai sinh từ sự hợp nhất đó và nhanh chóng mở rộng để về sau trở nên thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn. Tên “Chợ Lớn” vốn có từ năm 1801 khi Lê Văn Duyệt giữ chức Tổng Trấn Gia Định thành, còn người Hoa vẫn quen gọi Chợ Lớn là “Đê Ngạn” (tiếng Quảng Đông là “Tai Ngon”). Những đợt di dân của người Hoa đến vùng Sài Gòn-Chợ Lớn còn tiếp diễn mãi đến năm 1949 là năm chính quyền cách mạng Trung Quốc ở lục địa thành công. Người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nhóm ngôn ngữ, chủ yếu gồm các nhóm sau đây:

  • Quảng Đông
  • Triều Châu
  • Phúc Kiến
  • Hải Nam
  • Hẹ (Hakka)

Ngôn ngữ nhóm Hakka khá phức tạp, bao gồm nhiều nhóm nhỏ hơn và có sự dị biệt lớn. Tiếng Quảng Ðông và tiếng Triều Châu được nhiều người Hoa ở thành phố sử dụng và giao tiếp giữa các nhóm. Tiếng Bắc Kinh (phổ thông) cũng được các nhóm sử dụng và được giảng dạy trong nhà trường để cho con em người Hoa học.

Đặc tính của người Hoa

Người ta nói người Hoa ở khu Chợ Lớn giàu nứt vách là chuyện có thật, nhưng điều kỳ lạ mà bạn có thấy được ở khu người Hoa là nhà cửa của họ lại rất cũ kỹ, không được chăm chút như người Việt mình.

Những người Hoa sang Việt Nam hầu như đều rất giàu có. Không chỉ riêng ở Việt Nam mà đi đâu trên thế giới người ta cũng thấy Chinatown (phố người Hoa) thì phải nói là họ tài giỏi tới cỡ nào. Kể 1 vài điển hình về người Hoa giàu nứt vách ở SG nè, mà giàu từ tay trắng đi lên nữa đó:

– Nước rửa chén Mỹ Hảo: ông chủ hiện thời – Lương Vạn Vinh – người từng bắt đầu bằng việc bán một mớ đồ cũ trên vỉa hè– Giày dép Biti’s:ông chủ Vưu Khải Thành – người từng chuyển từ nghề đông y sang làm giày dép– Bánh kẹo Kinh Đô: ông Trần Kim Thành chỉ bắt đầu từ việc xoay xở với những bạn hàng nhỏ lẻ ở Campuchia– Cửa hàng bánh ABC: ông Kao Siêu Lực -người đi làm thuê cho một hiệu bánh và sau đó tự khởi nghiệp …

Còn đây là những lý do khiến cho họ giàu nhưng không bao giờ mua đất cất nhà lầu:

1. Người Hoa không thích phô trương

Người Trung Quốc bắt đầu di cư vào Việt Nam kể từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên thế kỷ 19. Sau đó, người Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn, Chợ Lớn. Thời kì này người Hoa sang Việt Nam theo các đợt tuyển mộ phu đồn điền của người Pháp.Rồi họ sang với hai bàn tay trắng và làm nên sự nghiệp nên họ rất quý những đồng tiền họ làm ra, họ tiết kiệm lắm.

Không giống như người Việt mình thích hô hào phóng đại thêm tên tuổi để có gì vay mượn, xoay chuyển càn khôn,….mà người Hoa không giàu họ sẽ từ từ lặng im làm giàu. Người Hoa đã giàu họ cũng im lặng để duy trì tài sản của họ mà thôi.

2. Tâm linh “Nhà là nơi bắt đầu và cũng không nên thay đổi”

Người Trung Quốc xưa rất coi trọng việc chọn đất làm nhà, cất mộ. Họ cho rằng gia chủ có ăn nên làm ra hay không, phần lớn đều liên quan đến việc chọn nhà, cất mộ, có chọn được đất lành, hướng tốt hay không. Người Hoa rất kỹ về phong thủy nên đã làm ăn được ở đâu thì không thay đổi. Quán xá dù nhỏ, nếu làm ăn phát đạt vẫn chỉ làm thêm cơ sở mới, không xây lên.

Họ nghĩ rằng chính nơi họ bắt đầu ấy phong thủy tốt, giúp họ làm ăn khấm khá cho nên họ sẽ tiếp tục duy trì như trước. Họ sợ “sai 1 li sẽ đi 1 dặm”, sợ “mất tất cả những gì đang có” nên thà họ sống ở chỗ cũ mà vẫn duy trì được suộc sống như trước thì vẫn hay hơn.

3. Coi trọng nguồn cội

Họ sống kiểu “hệ sinh thái” mà. Hỗ trợ, tương trợ nhau mà sống cho nên không cần phải lo lắng gì cả. Người làm ăn tốt thì giúp đỡ người nghèo, người lớn giúp đỡ người trẻ,….Người Hoa họ có cả một cộng đồng hỗ trợ: bạn hàng cho mua thiếu lâu hơn, các đàn anh trong nghề chỉ vẽ đôi đường và còn giới thiệu đối tác, người trong tộc luôn ủng hộ…sống như vậy quá tốt rồi nên đâu ai nghĩ tới chuyện phải đổi đi nơi khác.

Họ dạy nhau phải biết “Kính nghiệp” . Điều đó có nghĩa là mình làm giàu chưa đủ mà còn phải biết chia sẻ cách làm giàu, chia sẻ nỗi khổ với người thất bại, kết nối cộng đồng lại với nhau.

4. Trọng nghĩa khí

Mỗi năm, khu hội quán Nghĩa An bên cạnh trường tiểu học Chính Nghĩa, quận 5 đều có tổ chức bán đấu giá những cái lồng đèn tuyệt đẹp để lấy tiền chăm lo đời sống và giáo dục cho con em gốc Hoa. Số tiền tự nguyện mà cứ tăng dần, chục triệu, trăm triệu, rồi một tỉ, hai tỉ đồn,…không ai tiếc tiền cho thế hệ trẻ, kể cả người chẳng phải ruột thịtNhiều khi tiền bạc họ để dành dụ còn giúp đỡ người trong họ phường chứ không hẳn là phải mua đất cất nhà rần rần đâu.

5. Công bằng về tài sản

Bất kể người con trai thuộc ngôi thứ nào nếu tỏ ra uy tín cũng đều được người cha tin tưởng giao tay hòm chìa khóa. Người con nào là phá gia chi tử, bị liệt vào hạng thất dụng thì không được giao việc liên quan đến tiền bạc mặc dù vẫn được thương yêu.

Người hoa quan niệm là họ cho con cái những thứ tinh túy, cho “cần câu” chứ không cho “con cá”. Bởi vậy mua đất nhiều cất nhà nhiều cũng không nghĩa lý gì cả. Nếu con cái họ giỏi, tự ắt nó cũng làm ra được những thứ đó. Còn con cái họ không ra gì thì cho chỉ phí phạm thêm thôi

6. Người Hoa ít ham rẻ, chủ yếu ăn uống, mua sắm ở chứ không nghĩ nhiều tới chuyện nhà cửa

Đối với họ thì chất lượng và uy tín quan trọng nhất. Họ không tham của rẻ, không sống theo kiểu ăn nhín ăn bớt. Rất quan tâm đến đời sống con cháu nên bản thân ai nấy đều tự nhắc nhở mình phải tuân thủ quy tắc làm “điều răn” ấy. Cuối cùng họ chăm cái ăn hơn cái ở vì cái ăn ảnh hưởng tới đời sống và sức khỏe họ nhiều hơn. Tiền dồn vào ăn uống chứ không đầu tư vào nhà là vậy.

7. Người Hoa không muốn thấy “kẻ ăn mày” trong cộng đồng của họ

Một trong những triết lý của họ là cần–kiệm. Họ không có thói quen xài tiền như nhiều người dân khác ở Sài Gòn. Kiếm ít thì xài ít, kiếm nhiều cũng dùng tiền giúp đỡ người trong cùng bang.

Họ luôn sẵn sàng hỗ trợ việc làm, giúp người khác tự mưu sinh. Đối với họ, giúp là phải giúp cho giàu, không phải chỉ để có ăn cho qua ngày đoạn tháng. Và nhờ vậy không có bất mà không bao giờ thấy “kẻ ăn mày” trong cộng đồng của họ.

8. Triết lý bang hội

Người Hoa nổi tiếng đoàn kết trên thế giới. Đặc điểm của những khu có người Hoa sinh sống chính là văn hóa phường xã, bang hội. Bang hội ở đây là bang hội phục vụ kinh tế, có nhiều ở thời xưa, trước 1975. Gần như ở đâu, người Hoa cũng sống tụ tập lại với nhau, chịu sự quản lý của trưởng thôn (bang trưởng), thường cũng là người gốc Hoa. Họ có truyền thống giúp đỡ người đồng hương.

Tại Chợ Lớn, bất kỳ ai di cư từ Trung Quốc sang đều được hỗ trợ chỗ ở, việc làm. Tới tuổi thì anh em giúp mai mối, dựng vợ gả chồng, mọi mâu thuẫn đều được giải quyết nội bộ. Ngay cả với người mất, nếu không có tiền, bang cũng sẽ gom góp lo chuyện hậu sự.

9. Đi tới đâu lập chợ tới đó

Đi đâu người ta cũng thấy Chinatown – Phố người Hoa. Phố người Hoa nào cũng lớn mạnh và giàu có. Người ta nói, người Hoa giỏi kinh doanh, nên đi đâu cũng làm ăn được. Chỉ cần nhìn vào việc họ chạy xuống miền Nam, lập chợ đầu tiên chứ không phải bệnh xá, trường học thì đủ biết họ mạnh điều gì. Cho đến nay, Chợ Lớn vẫn là khu chợ có quy mô kinh doanh lớn nhất miền Nam, quy tụ những chợ lớn nhất Sài Gòn: Kim Biên, Bình Tân, An Đông, Tân Thành,…

Người Hoa thường làm ăn theo nghề gia đình, cha truyền con nối, ít thuê người ngoài, không bỏ nghề bao giờ. Vì thế, khắp Chợ Lớn, chúng ta toàn gặp những con đường suốt mấy chục năm chỉ bán đúng một mặt hàng, không đổi ngành và cũng không ai ăn cắp nổi.

Người Hoa dù có ở nhà cửa lớn bé thế nào, vẫn không phải là người nghèo. Vì vốn người Hoa khó khăn đều có đồng hương đỡ đầu, ít ai lâm vào tình cảnh thiếu thốn quá mức. Nếu để ý, người ta cũng có thể thấy, các “ông trùm” công ty kinh doanh ở miền Nam hầu hết là người gốc Hoa: Thái Tuấn, Sacombank, Kinh Đô, Đồng Khánh, Bút bi Thiên Long,…

10. Tới chợ Lớn, đi ăn trước!

Những món ăn thường ngày của người Sài Gòn hầu hết có gốc Hoa. 

Cũng giống như hầu hết Phố người Hoa trên thế giới, Chợ Lớn luôn hấp dẫn người địa phương và khách du lịch với các con phố ẩm thực đặc sắc. Thức ăn là một trong những điều người Hoa tự hào nhất. Dù đã sống ở Sài Gòn rất lâu, lâu đến mức người ta cứ phải tranh cãi với nhau về việc người Hoa hay người Kinh là ông tổ của Sài Gòn, nhưng người ở khu Chợ Lớn vẫn giữ được rất nhiều món ăn thuần Trung.

Đành rằng để phát triển kinh doanh, họ buộc phải thay đổi khẩu vị, phục vụ người Việt. Nhưng đâu đó giữa các hẻm Chợ Lớn, người Hoa vẫn nằm lòng các địa điểm ăn uống “nguyên bản”.

Ở các gia đình người Hoa hoặc có mẹ hay vợ là người Hoa, dễ bắt gặp những bữa ăn thịnh soạn trong bất kỳ buổi nào. Sự phát triển của ẩm thực Hoa cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến thói quen ăn uống của người Sài Gòn. Các món rất quen như: Há cảo, hoành thánh, sủi cảo, phá lấu, bò pía,… đều được xem như những đặc sản của Sài Gòn.

11. Triết lý: Tiểu phú do cần

Kinh doanh giỏi, giàu có, nhưng hầu hết người Hoa lại sống rất tiết kiệm. Một trong những triết lý của họ là cần – kiệm. Ở khu có người Hoa sinh sống, hầu như rất khó để kiếm được một người “ăn mày”. Bởi họ không có thói quen cho tiền như nhiều người dân khác ở Sài Gòn.

Ngược lại, người Hoa lại luôn sẵn sàng hỗ trợ việc làm, giúp người khác tự mưu sinh. Đối với họ, giúp là phải giúp cho giàu, không phải chỉ để có ăn cho qua ngày đoạn tháng. Thành ra người Hoa ở Chợ Lớn đa phần đều cần mẫn làm việc, không nhờ vả và cũng ít phung phí. Họ chỉ thực sự “vung tiền” làm từ thiện trong các buổi bán đấu giá vật phẩm có tổ chức quy mô trong các lễ Tết. Số tiền được “vung” ra luôn nhiều hơn 10 con số, tất cả đều có mục đích vì tôn giáo, hỗ trợ đồng hương.

Người Hoa hầu hết có tầm nhìn trong buôn bán. Họ đặt chữ tín hàng đầu nên thường giữ được mối làm ăn lâu dài với thương lái trong và ngoài nước. Chính vì thế mà dù chỉ chiếm 7% dân số Sài Gòn như tỉ trọng doanh nghiệp của người Hoa lại chiếm 30% ở thành phố đầu tàu đất nước.

Ở đâu có người Hoa, ở đó có chợ và chợ rất phát triển. (Ảnh: vietnamnet.vn)

12. Bằng cấp là thứ yếu

Ngược lại với sự phát triển kinh doanh, buôn bán, người Hoa tỏ ra ít coi trọng bằng cấp. Với họ, quan trọng hơn cả là sự cần mẫn và năng suất lao động. Chỉ cần làm việc hoặc quen biết ai đó làm việc dưới một người sếp gốc Hoa, bạn sẽ dễ dàng nhận ra anh ta coi trọng khả năng đến thế nào. Ngay cả ngoại hình, giao tiếp cũng không quá quan trọng. Vì thế, hầu hết các gia đình có truyền thống kinh doanh đều coi nhẹ việc học của con cái hơn so với người Kinh.

Đọc thêm  Alexandre Yersin: Người ‘khai sinh’ Đà Lạt và tìm ra vi trùng dịch hạch

Người Hoa luôn muốn con cái được tiếp xúc sớm với kinh doanh, như vậy sau này đứa trẻ sẽ có đủ hiểu biết để gánh vác truyền thống gia đình. Đi dọc Chợ Lớn, dễ nhận ra nhiều bạn trẻ đang độ tuổi đi học đã bắt đầu bán lớn buôn bé ở đây cùng gia đình.

13. Người Hoa rất chăm lo cho sức khỏe bản thân

Bên cạnh những con đường đầy đủ các mặt hàng phục vụ cuộc sống, Chợ Lớn có cả một dãy các cửa hàng thuốc Đông y gia truyền rất lớn. Các bài thuốc này, song song với Tây y, là phương thức chữa trị giá trị nhất thế giới. Và cũng không bất ngờ, bệnh viện ở Quận 5 nhiều hơn các quận lân cận.

Người Hoa cũng ít ham rẻ, rất cẩn trọng trong việc lựa chọn thực phẩm, hàng hóa. Đối với họ, chất lượng và uy tín quan trọng nhất. Họ không tham của rẻ, không sống theo kiểu “ăn nhín ăn bớt”. Rất quan tâm đến đời sống con cháu nên bản thân ai nấy đều tự nhắc nhở mình phải tuân thủ quy tắc làm “điều răn” ấy.

Bên cạnh đó, trong rất nhiều các món ăn của người Hoa, người ta luôn nghe một mùi vị rất đặc trưng của thảo dược. Hay trong các bộ phim truyền hình cổ trang, các món ăn luôn đi kèm với những khả năng trị bệnh và tăng cường sức khỏe. Điều đó đủ chứng minh cho người ta thấy, người Hoa là một dân tộc coi trọng sức khỏe hơn hết.

NGUỜI HOA Ở CHỢ LỚN, NHỮNG ĐIỀU BẠN CÓ THỂ CHƯA BIẾT

1. Người Hoa ở Chợ Lớn phần lớn thuộc về bốn nhóm người chính: Quảng Đông (Việt) tính tình rộng rãi, giỏi kinh doanh buôn bán, Phúc Kiến (Mân) bảo thủ gia trưởng và coi trọng việc thi cử đỗ đạt, Triều Châu (Tiều) sống tiết kiệm, kham khổ và siêng năng và Khách Gia (Hẹ) đầu óc phóng khoáng và đặc biệt nấu ăn rất ngon, nhất là những món Tây. Trong đó Quảng Đông là nhóm đông nhất.

2. Ngôn ngữ chính để giao tiếp của người Hoa ở Chợ Lớn với nhau là tiếng Quảng Đông vì tiếng Quảng Đông tương đối dễ nói. Người Hẹ, Tiều và Phúc Kiến phần lớn đều có thể nói lưu loát tiếng Quảng Đông, còn người Quang Đông hiếm ai có thể nói được ba thứ tiếng còn lại. Điều này khiến Chợ Lớn rất giống Hong Kong về mặt ngôn ngữ với tiếng Quảng Đông là ngôn ngữ chính. Nhiều người Hoa ở Chợ Lớn biết tiếng Phổ thông nhưng nói không tốt vì hầu như chẳng bao giờ sử dụng.

3. Người Quảng Đông ở Chợ Lớn gọi nhau là Thoòng dành (Đường nhân) để nhắc nhở quê hương của họ là ở Đường Sơn, Quảng Đông, gọi Sài Gòn là Xấy Cung (Tây Cống) và Chợ Lớn là Thày Ngòn (Đề Ngạn). Còn người TQ thì gọi là Tài Lục dành (người đại Lục). Người Hoa Chợ Lớn không thích bị đánh đồng với người đại lục mà thích khi được khen giống người Héng Coỏng (Hương Cảng) hơn.

4. Người Hoa ở Chợ Lớn có một số đức tính như rất siêng năng và giữ chữ tín trong kinh doanh, hầu như hiếm khi xảy ra chuyện thất tín hay mua gian bán lận. Khi buôn bán với người Việt hoặc người nước ngoài, người Hoa cũng không lợi dụng sự bất đồng ngôn ngữ để bán giá khác cho khách. Họ cũng ít khi se sua chưng diện vẻ bề ngoài xe xịn, điện thoại xịn. Nhiều ông già người Hoa ngồi uống cà phê quán cóc có thể là xì thẩu (đại gia) cỡ bự.

5. Người Hoa Chợ Lớn coi trọng gia đình và phần lớn dạy con rất nghiêm. Gia đình nhiều thế hệ thường tụ tập đông đủ ăn cơm tối chung, hiếm có chuyện mỗi người bưng một tô cơm ngồi vừa làm việc riêng vừa ăn hay đi đâu quá giờ cơm tối. Tỉ lệ người Hoa nghiện ngập, cờ bạc, đánh nhau trong trường hoặc phá thai rất hiếm cũng một phần nhờ gia giáo nghiêm khắc.

6. Đàn ông người Hoa hiếm khi nhậu nhẹt rượu bia. Dịp duy nhất tôi thấy họ uống vài ly bia là đám cưới, thôi nôi hoặc tân gia và hầu như không bao giờ ép uống tới say. Các quán ăn của người Hoa buổi tối hầu như không hề thấy cảnh cánh đàn ông ngồi nhậu cà kê mà thường là cả gia đình vợ chồng con cái chở nhau đi ăn. Đàn ông người Hoa phần lớn đều nấu ăn rất ngon và không ngại chuyện bếp núc hoặc làm việc nhà.

7. Người Hoa Chợ Lớn cũng có một số nhược điểm như nhà ở không chú trọng vệ sinh nên rất bừa bộn và cũ kĩ, coi trọng việc đẻ con trai nối dõi tông đường,bảo thủ gia trưởng và mê tín. Các nghi thức ma chay cưới hỏi đều rất rườm rà và tốn kém.

8. Nếu như người Việt Nam hay sử dụng nước mắm để nêm nếm, người Hoa thường sử dụng nước tương, dấm đỏ, bột ngũ vị hương và dầu mè làm gia vị chính. Người Hoa ít dùng ớt tươi mà thường dùng gừng, tiêu, ớt khô hoặc sa tế để tạo vị cay cho món ăn.

9. Người Quảng Đông nổi tiếng các món canh tiềm, điểm tâm (há cảo, xíu mại), hoành thánh, sủi cảo, hủ tíu mì…người Tiều có cháo trắng cà na, trứng vịt muối, cải xá bấu, ruột heo xào cải chua, bún gạo xào và phá lấu…người Phúc Kiến có món Phật leo tường nổi danh còn người Hẹ nấu các món như cơm chiên, cơm xào, bò bít tết, gà xối mỡ, nui xào bò…những món kết hợp những nguyên liệu phương Tây như củ hành tây, cà chua, ớt chuông, khoai tây…là số một. Thời Pháp thuộc, các đầu bếp nấu ăn cho quan Tây phần lớn là người Hẹ.

10. Người Hoa ăn cơm nhất thiết phải có canh. Canh thường được nấu thật lâu, hầm nhừ các nguyên liệu như thịt, rau cải và các vị thuốc với nhau mấy tiếng đồng hồ rồi chủ yếu uống nước bỏ xác. Người Hoa ăn cơm không chan canh như người Việt mà uống canh sau khi ăn cơm với các món mặn xong.

11. Người Hoa thích ăn chè (thoòng sủi = nước đường). Chè người Hoa được nấu từ hầu như tất cả các loại nguyên liệu từ như các loại đậu (đậu xanh, đậu đỏ, đậu đen), củ (khoai lang, khoai sọ, củ năng), hạt (bo bo, hat sen, ý nhĩ…) quả (táo tàu, nhãn nhục, trái vải, đu đủ…) các vị thuốc (hoài sơn, kỷ tử, thục địa, ngân nhĩ…) cho tới những thứ mang nguồn gốc động vật (trứng gà, trứng cút, tuyết giáp, mai rùa…). Chè người Hoa không có nước dừa như chè người Việt.

12. Món ăn Tết người Hoa thường là lạp xưởng, vịt lạp, canh tóc tiên giò heo đông cô, canh khổ qua dồn thịt, gà luộc và bánh tổ (niên cao). Tết Đoan ngọ ăn bánh bá chạng (gần giống bánh chưng của người Việt nhưng phần nhân có trứng vịt muối, thịt heo và nấm đông cô và được gói bằng lá tre) và thang viên (chè trôi nước). Người Hoa cũng cúng giao thừa, xông nhà, chúc tết cha mẹ và nhận lì xì vào mùng 1 tết nhưng không chưng mai đào hay hoa trong nhà như người Việt. Ngày giáp tết, người Hoa hay mua những tờ giấy đỏ viết chữ Phúc hoặc những câu chúc tết như “vạn sự như ý”, “xuất nhập bình an”, “sinh ý hưng long” (mua may bán đắt) viết bằng sơn nhũ kim về dán trên dưa hấu hoặc trên tường nhà và trước cửa. Nhà làm ăn thì hay rước đội lân về múa khai trương đầu năm.

13. Người Hoa phát lì xì hầu như bất cứ khi nào nhà có chuyện hỉ như đám cưới, thôi nôi, đầy tháng, khai trương, tân gia…với ý nghĩa chia lộc lấy hên. Màu may mắn là màu đỏ, màu xui xẻo là màu trắng, chỉ dùng cho tang ma.

14. Người Hoa có tinh thần đoàn kết tương trợ rất cao qua các hội đồng hương được gọi là hội quán. Các hội quán lúc trước là các hội kín của người Minh hương chống lại nhà Thanh. Khi qua tới Việt Nam, các bang hội này dần mất đi màu sắc chính trị mà chủ yếu tương trợ giúp đỡ đồng hương về mặt kinh tế. Trụ sở của các hội quán thường được đặt ở các miếu thờ Quan Công, Thiên Hậu nương nương hay Bổn Công (Triều Châu). Những hội quán này ở Hong Kong thường phát triển theo hướng làm ăn phi pháp gọi là “xã đoàn” tức băng đảng xã hội đen.

15. Ngoài những từ chỉ món ăn quá quen thuộc như hoành thánh, há cảo, xíu mại, xá xíu, lạp xưởng…người miền nam trước 1975 còn dùng khá nhiều từ gốc tiếng Hoa như pạc sỉu (cà phê sữa đá ít cà phê), xây chừng (cà phê đen li nhỏ), tài mà ( đại ma = cần sa), xộ khám (toạ giam = ngồi tù), nhị tì (nghĩa địa) tài chảy, a có (ca = anh), a chế (tỷ = chị), sườn xám (trường xiêm = áo dài), xí quách (trư cốt = xương heo)…trong tiếng Quảng Đông, cà na, pò pía, hủ tíu (phảnh), phá lấu, thím (thẩm = vợ của chú hoặc người phụ nữ trung tuổi), tía (cha), má (mẹ), thèo lèo (trà liệu = bánh kẹo ăn khi uống trà),bánh pía, tùa hia (đại huynh)…trong tiếng Triều Châu để sử dụng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày.

Không gian nhà ở của người Hoa

Kết cấu kiến trúc, trang trí bên ngoài

Trải qua nhiều thế kỷ, người Hoa đã thích ứng dần với những nét văn hóa của người Việt. Tuy nhiên trong kiến trúc nhà ở, họ vẫn giữ được phong cách rất riêng, nhìn vào rất dễ phân biệt với kiến trúc nhà ở của người Việt.

Khảo sát một số khu vực tập trung đông người Hoa ở quận 5 có thể nhận thấy những nét đặc trưng của người Hoa thông qua cách sắp xếp và trang trí nhà cửa. Họ lấy màu đỏ làm chủ đạo, ngoài ra còn dán, vẽ chữ Hán trong và ngoài nhà. Các bàn thờ thần thánh, tổ tiên được đặt ở những nơi trang trọng và linh thiêng. Họ trang trí nhà cửa bằng các băng giấy, liễn màu đỏ có đề câu đối được viết chữ Hán bằng nhũ vàng hoặc mực nho đen, ghi các lời chúc mừng, cầu nguyện, treo lồng đèn nhiều màu…

Người Hoa thường dán bùa được thỉnh ở chùa về, dán kiếng (bùa niêu ông Hổ) ở cửa nhà để trấn áp ma quỷ, trừ tà đem lại sự may mắn, bình an cho gia đình (1). Ngoài ra, họ còn dán 5 tờ giấy đỏ có chấm vàng. Sự tích kể lại: “Ngày xưa có một con yêu quái ăn thịt người, mỗi đêm nó đến một nhà và bắt người ăn thịt. Sau khi ăn thịt xong lấy tay có móng vuốt dính máu cào lên cửa nhà đó để đánh dấu đã ăn thịt rồi. Có một ông lão từ nơi khác đến vùng đó nghe kể lại sự tích, ông đã chỉ cho người dân cắt giấy đỏ và lấy nhũ vàng chấm lên như vết móng tay của con yêu quái dán trước cửa nhà và ông lão đã làm phép vào tờ giấy đỏ có chấm nhu vàng, từ đó ma quỷ không đến quấy phá và ăn thịt người nữa” (2).

Người Hoa ở TP.HCM thường xây dựng nhà cửa ở nơi đông dân cư để thuận lợi cho việc làm ăn, buôn bán. Phổ biến hơn cả là nhà phố, có một hoặc hai tầng với chiều ngang hẹp, chiều sâu rất dài. Những vật liệu chính dùng để xây dựng nhà ở đây đều có sức chịu lực và độ bền cao do đặc điểm khí hậu khắc nghiệt của vùng đất phương Nam. Thông thường, các ngôi nhà có kết cấu kiểu nhà khung gỗ, hai bên có tường gạch ngăn cách. Khuôn viên trung bình của các ngôi nhà có chiều ngang từ 4-8m, chiều sâu từ 10-40m, biến thiên theo từng tuyến phố. Bố cục mặt bằng phổ biến gồm: vỉa hè, hiên, nhà chính, nhà phụ, hiên, nhà cầu, sân trong, hiên, nhà sau ba gian, vườn sau. Thực chất, nhà phố của người Hoa bao gồm nhiều nếp nhà, bố trí theo chiều sâu, gồm 3 phần: không gian buôn bán, không gian sinh hoạt và không gian thờ cúng. Cách phân chia này phù hợp với mặt bằng hẹp và kết hợp nhiều công năng của ngôi nhà. Có thể nhận thấy đây là một sản phẩm kiến trúc mang tính văn hóa khu vực.

Bố cục không gian bên trong

Trước tiên là không gian thờ cúng, tục thờ cúng tổ tiên của người Hoa bắt nguồn từ đạo hiếu của Nho gia. Ngoài việc hướng về cội nguồn, họ còn quan niệm, ông bà tổ tiên đã khuất vẫn có thể phù hộ cho con cháu trong cuộc sống dương gian được bình an vô sự, tránh được những tai ương…

Khác với người Việt, trang thờ ông bà của người Hoa được đặt ngang hàng với các trang thờ thần linh hoặc thờ phật ở trên cao, chính giữa gian nhà chính. Riêng người Hoa Phúc Kiến thì trang thờ ông bà nhỏ hơn các trang thờ thần linh và được đặt thấp hơn ở một bên. Trên trang thờ ông bà, người Hoa không đặt di ảnh như người Việt mà chỉ đặt bài vị, đó là một khung kính bên trong lồng giấy đỏ viết chữ Hán bằng nhũ vàng. Trên đó ghi họ tên, ngày tháng năm mất của người người đã khuất. Con cháu căn cứ vào ngày tháng trên đó mà cúng giỗ. Người Hoa không thờ di ảnh. Nếu có, họ thường treo di ảnh ở trên tường phía bên phải hoặc trái căn nhà, sao cho di ảnh không hướng ra cửa chính, không cần phải ở cạnh trang thờ. Ngoài ngày giỗ, lễ tết, các gia đình phải sắm lễ trình báo tổ tiên khi có bất kỳ sự kiện nào như đầy tháng, thôi nôi, mừng thọ, lễ cưới, lễ tang…

Trong bố trí về nội thất, gian thờ tự và tiếp khách được chăm chút hơn cả. Dù có sự khác nhau đôi chút về hình thức, nhưng người Hoa cả ở 3 miền đều đặt bàn thờ ở vị trí trung tâm, nơi trang trọng nhất trong mỗi gia đình. Tủ thờ là vật đẹp nhất trong nhà thể hiện lòng thành kính, hiếu thảo của người đang sống với tổ tiên. Đối với những gia đình khá giả, tủ thờ được làm bằng gỗ quý, chạm khắc tinh xảo. Ngoài đồ đạc dùng để tế tự không được để vật dụng khác lên ban thờ. Trung tâm của ban thờ là bát nhang. Những gia đình khá giả còn có đỉnh đồng để đốt trầm vào mỗi dịp cúng kiến, đỉnh đồng thường được chạm khắc long, lân, mai, trúc. Hai bên bát nhang phía trước là đôi chân đèn để thắp nến, có ý nghĩa tượng trưng cho đôi vầng nhật nguyệt, cũng nói lên rằng linh hồn của người đã khuất không bao giờ tắt.

Tường sau bàn thờ nhà khá giả là hoành phi, liễn đối xứng bằng Hán tự, sơn son thếp vàng, nói lên công đức của những người đã khuất. Ở gia đình bình dân, thường là tranh dân gian vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư, cá chép vượt vũ môn hoặc treo chữ Phúc, Lộc, Thọ. Đặc biệt, nhiều gia đình có tranh thờ vẽ trên kiếng với những phong cảnh thanh bình.

Ngôi nhà truyền thống của người Hoa thường có ba hoặc năm gian, trong đó gian giữa được coi là quan trọng nhất, là trung tâm của ngôi nhà. Những việc quan trọng như: thờ phụng, tiếp khách, sinh hoạt… đều diễn ra ở gian này. Gian giữa luôn có cửa lớn, mở cửa là nhìn thấy trời đất lưu thông, âm dương hòa hợp. Bàn thờ là nơi thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với tổ tiên nên thường được lập ở gian giữa. Gia chủ không được kê giường ngủ đối diện với bàn thờ.

Nhà ở nông thôn có kiến trúc ít biến đổi, nên vẫn giữ được kiểu bàn thờ truyền thống, được đặt theo đúng phong thủy. Với những ngôi nhà ở thành thị, cách bố trí và đồ thờ cúng cũng có sự khác biệt, vừa phù hợp với không gian hiện đại, vừa giữ được tính tôn nghiêm nơi thờ cúng.

Quan trọng không kém là không gian phòng khách, nơi tiếp đón họ hàng, thân hữu. Ở vị trí trung tâm với vai trò là không gian sinh hoạt chung đồng thời là nơi tiếp đón khách quý, bạn bè nên cách thiết kế, bài trí trong không gian phòng khách có ảnh hưởng rất lớn đến tài vận của toàn bộ các thành viên trong gia đình. Người Hoa thường treo các bức tranh sơn thủy, hoa cỏ xanh tươi, hạc, phượng hoàng… ở phòng khách. Đó là biểu tượng cho sự cát tường, thịnh vượng. Nếu gia chủ muốn treo hình hổ, chim ưng… để bảo vệ gia trạch trong phòng khách thì phải chú ý hướng đầu của chúng ra ngoài cửa.

Theo phong thủy, phòng khách được bố trí, sắp đặt là căn phòng đầu tiên của ngôi nhà và ở vị trí gần nhất với cổng ra vào. Bên cạnh việc tiện lợi cho khách khi đến chơi, phòng khách còn phải là nơi hấp thu được nhiều không khí và ánh sáng tự nhiên nhất. Đây là cách giúp các thành viên trong gia đình luôn khỏe mạnh, dồi dào sức khỏe.

Phòng ngủ được xem là nơi thể hiện quyền lực cá nhân. Phòng ngủ được bố trí ở nửa nhà sau, phòng ngủ củanam, nữ nằm ở hai bên trái, phải của căn nhà theo nguyên tắc nam tả, nữ hữu. Người Hoa phân biệt rõ ràng giữa không gian chính và thứ (quân và thần). Theo đó, phòng ngủ của chủ nhà được thiết kế rộng rãi và có vị trí đẹp hơn các phòng ngủ khác. Nếu chủ nhà ở phòng thứ thì quyền lực dễ bị tiểu nhân (3) dẫn động, khó phát triển sự nghiệp, việc dạy dỗ con cái gặp nhiều trở ngại.

Hướng phòng ngủ có ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của con người. Phòng ngủ ở hướng tây nam và tây bắc có lợi cho người đã trưởng thành. Phòng ngủ đặt ở phía bắc sẽ yên tĩnh, rất tốt cho người kém sức khỏe, thường bị mất ngủ. Phòng ngủ đặt ở phía tây giúp đời sống vợ chồng thêm mặn nồng. Phòng ngủ phía đông hoặc đông nam rất thích hợp với lứa tuổi thanh niên…

Người Hoa không dùng từ gian bếp mà dùng từ nhà bếp. Nếu làm nhà xem tuổi đàn ông, thì xây bếp xem tuổi đàn bà. Bếp nấu phải đảm bảo tàng phong tụ khí (4), tức là nên tránh những nơi gió lùa, để tụ được những luồng khí tốt. Khi phân khu chức năng trong nhà, cần lựa chọn vị trí phòng bếp tránh được hướng gió. Theo đó, phòng bếp không nên nhìn thẳng ra cửa chính, không bố trí cửa sổ phía sau khu vực bếp nấu. Ngoài ý nghĩa phong thủy, việc đặt bếp nấu đúng hướng gió sẽ tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ lớn.

Bên cạnh đó, phòng bếp cũng cần phải đảm bảo tọa hung hướng cát, nghĩa là, phòng bếp nên được đặt ở hướng xấu và nhìn về hướng tốt, giúp đẩy lùi, ngăn chặn những điều không tốt, mang đến sự may mắn cho gia đình. Hơn nữa, cần phải chú ý nguyên tắc thủy hỏa bất dung. Nghĩa là, bếp nấu nên tránh đặt lên trên rãnh, mương, đường nước. Một điều rất quan trọng đối với người Hoa đó là không nên đặt bếp ngay dưới xà ngang, họ cho rằng, đó là cách cục xà ngang đè ông táo (5). Nếu đã phạm, gia chủ có thể làm thêm trần giả hoặc đóng thêm tủ bếp để che xà ngang bên trên. Nhà bếp không chỉ để nấu nướng, khu vực này còn có khá nhiều kiêng kỵ, là nơi tăng thêm vận khí cho gia chủ, từ việc cải thiện sức khỏe, cho đến công việc xã hội… Gia chủ phải đặt bếp tương ứng với mệnh tuổi của gia chủ và theo một số nguyên tắc khác như: tránh nền xú uế, tránh nhìn ra cửa chính…

Gia đình người Hoa ở TP.HCM thường có bàn thờ táo quân, vị thần cai quản bếp núc, cai quản nội gia. Họ thờ táo quân tại bếp, thường là một bàn thờ nhỏ, có một mảnh giấy đỏ viết 4 chữ Hán: “Định phúc táo quân”. Có nơi dán thêm câu đối với ý nghĩa cầu thần phù hộ cho bếp núc trong gia đình lúc nào cũng đỏ lửa, gia đình no ấm, đủ đầy.

Táo quân được cúng trang trọng nhất vào ngày 23 tháng chạp. Theo truyền thuyết, vào ngày này, táo quân sẽ về chầu Ngọc hoàng, báo cáo mọi sự việc của gia chủ trong một năm. Ngày ông táo về trời, lễ vật được cúng đa phần là những món ăn ngọt như chè, bánh, mứt… đồng thời gia chủ còn đốt hạc hoặc ngựa giấy…

Leave a comment