Tài liệu tham khảo được chắt lọc bởi anh Dũng Già guide tiếng Pháp và Tây ban nha. Hy vọng sẽ không làm chúng ta quên bài.
1/ Giai đoạn xâm lược của Pháp ( 1858- 1884)
• Tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng, bị quân triều đình đẩy lui nên rút hải quân vào miền Nam xâm chiếm Gia Định.
• Tháng 6 năm 1862, Triều đình Tự Đức ký Hòa ước Nhâm Tuất cắt nhượng ba tỉnh miền Đông Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp.
• Năm 1867, Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam Kỳ).
• Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua nhiều trận đánh với quân triều đình ở Bắc Kỳ.
• Nguyên nhân: Tìm kiếm thuộc địa, khai thác tài nguyên, tăng cường sức mạnh của Mẫu quốc
• Cớ: triều đình Huế không cho tự do truyền đạo và tàn sát giáo dân cũng như các cha đạo nước ngoài
2/ Giai đoạn bị Pháp đô hộ ( giai đoạn Pháp thuộc) (1884- 1945)
• Đến năm 1884 thì nhà Nguyễn chính thức công nhận quyền cai trị của Pháp trên toàn Việt Nam bằng Hiệp ước Patenôtre 6/6/1884.
• Pháp có quyền cai trị, còn các vua nhà Nguyễn chỉ còn là tượng trưng, quân Pháp có thể tùy ý phế lập vua Nguyễn
• 17-10-1887,Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, lúc đó mới bao gồm có Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì và Campuchia, trực thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa.
• 19- 4-1899, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương.
• Việt Nam bị chia cắt làm 3 kì: Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì với ba chế độ cai trị khác nhau. Bắc Kì và Trung Kì là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức, Lào và Campuchia cũng là đất bảo hộ của Pháp, Nam Kì là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm, tất cả hợp thành Liên bang Đông Dương.
• Việt Nam, Lào, Campuchia bị xóa tên trên bản đồ thế giới.
3/ Giai đoạn Nhật chiếm đóng 1941- 1945
• Tháng Tám, 1940 trước áp lực của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai Pháp thỏa thuận cho 6.000 quân của Đế quốc Nhật Bản tiến vào Đông Dương.
• Sau đó Nhật đòi tăng quân số lên 25.000 lính nhưng Pháp cố trì hoãn
• 22/9/1940 Nhật Bản đơn phương dưới sự chỉ huy của tướng Nakamura Akihito tiến quân từ Trung Hoa qua biên giới Bắc Kỳ
• 24/9/1940 chiếm Lạng Sơn.
• 25/9/1940 chính phủ Pháp chính thức chấp nhận mọi yêu sách, chấp nhận việc chiếm đóng cùng giao quyền điều hành những căn cứ quân sự cho quân đội Nhật và ngược lại, hai bên sẽ hưu chiến. Xem như Pháp mất chân tại VN.
• Từ 1941 quân đội Pháp đã mất quyền kiểm soát Đông Dương thuộc Pháp. Tuy nhiên, người Nhật vẫn giữ lại những quan chức Pháp và chỉ điều khiển sau hậu trường.
• 9/3/1945, khi tình hình chiến tranh thế giới 2 thay đổi bất lợi, Nhật đổi chính sách và đảo chính Pháp, bắt giam các tướng lãnh và tước khí giới của quân đội Pháp ở Đông Dương
• Tuy nhiên bộ máy hành chính mà Nhật kế thừa từ Pháp đã tan rã, vì thế việc thành lập bộ máy cai trị bản xứ đặt ra như một đòi hỏi cấp bách và Đế quốc Việt Nam ra đời trong bối cảnh đó.
4/ Đế Quốc Việt Nam ( 3/45- 8/45)
• Đế quốc Việt Nam là tên chính thức của một chính phủ tồn tại 5 tháng trong lịch sử Việt Nam (từ tháng 3 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945).
• 11/3/1945, vua Bảo Đại gặp mặt cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki tại điện Kiến Trung để ký bản Tuyên cáo Việt Nam độc lập.
• Nhật trao trả độc lập cho VN qua Tuyên cáo độc lập này. Bảo Đại thành lập chính phủ do Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Bảo Đại được Nhật công nhận là vua của ĐQVN
• ĐQVN tuyên bố xóa bỏ Hiệp ước Patenôtre do Triều đình Tự đức ký năm 1884
• Đế quốc Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề: Sự tận thu tài nguyên của quân đội Nhật Bản để phục vụ chiến tranh, sự khống chế của Nhật Bản, không có quân đội, và nhất là Nạn đói Ất Dậu làm chết gần 2 triệu người. Lúc đó chính phủ TTK không thể chở hàng cứu đói cho miền Bắc kịp thời. Việt Minh tranh thủ phá kho thóc của Nhật cứu đói nên được lòng dân và tập hợp thêm được lưc lượng
• 16-28/8/1945, Việt Minh tranh thủ lúc lộn xộn khi Nhật đầu hàng, chính phủ ĐQVN thì không có quân đội, nên tiến hành Cách mạng tháng 8 giành chính quyền từ tay của ĐQVN. Chính phủ Trần Trọng Kim của ĐQVN không có hành động quân sự chống lại và chuyển giao chính quyền cho Việt Minh ngày 23/8 ( Thật ra muốn chống lại phải nhờ Nhật và Nhật sẵn sàng giúp tuy đã tuyên bố đầu hàng đồng minh và đang chờ giải giáp, nhưng TTK không muốn)
Cờ của Đế quốc VN thời Bảo Đại với chính phủ Trần Trọng Kim

Pháp quay lại Đông Dương và kháng chiến chống Pháp của VNDCCH (23/9/45- 7/5/54)
• Sau khi chính phủ lâm thời của VNDCCH dc thành lập thì Mỹ lại thay đổi chính sách Đông Dương. Mỹ lại muốn hỗ trợ Pháp ở lại ĐD để ngăn làn sóng CS đến từ Nga và TQ (khi đó quân CS của Mao Trạch Đông và Trung hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch đang nội chiến, sau này Mao chiến thắng và thành lập CHNDTH 1/10/49). Mỹ sợ rằng nếu Mao CS chiến thắng thì làn sóng CS sẽ lan khắp châu Á nên phải ủng hộ Pháp ở lại ĐD và ngưng viện trợ giúp đỡ chính phủ CM lâm thời của HCM. Điều này làm cho HCM, 1 người theo chủ nghĩa yêu nước chứ chưa hẳn là CS, sau này buộc phải chọn con đường CS của Mao khi Mao chiến thắng Tưởng năm 1949, 50.
• Sau khi Đồng Minh thắng, Nhật đầu hàng, Anh và Trung Hoa dân quốc của Tưởng phụ trách giải giáp quân Nhật tại VN. Quân Tưởng phụ trách miền Bắc, quân Anh phụ trách miền Nam.
• 23/9/45 Pháp theo quân Anh trở lại miền Nam VN (lúc này Việt Minh vừa kiểm soát được chính quyền nên còn yếu), sau đó nổ sung chiếm lại Nam kỳ.
• Ngoài Bắc quân của Tưởng GT vào giải giáp quân Nhật theo hiệp ước với Đồng Minh, chính phủ mới còn yếu, trong chính phủ lâm thời vẫn còn nhiều người thân Tưởng, và về nguyên tắc vẫn đang là quân đồng minh nên phải chu cấp cho quân TGT lương thực tiền bạc…
• Hồ Chí Minh gửi 9 bức điện cho Chính phủ Mỹ, bao gồm cả bốn bức thư tay gửi trực tiếp cho Tổng thống Mỹ Harry S. Truman đề nghị Mỹ đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Lâm thời. Thế nhưng vì cho rằng HCM là 1 người CS nguy hiểm nên Mỹ đã không hồi đáp ý nguyện của HCM. Đây là đánh giá nhiều người cho là sai lầm của Mỹ nên dẫn đến việc giúp Pháp quay lại VN để chống lại CS, và cũng đẩy HCM vào vòng tay của Mao và Liên xô.
• Mỹ không đáp lại nguyện vọng của Hồ Chí Minh. Cuối tháng 9 năm 1946, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước, chấm dứt liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh. Việc này do Mỹ thay đổi chiến lược, nhận thấy CS từ Liên Xô và Trung Hoa ( Mao) có thể chiếm ưu thế tại Châu Á nên họ phải giữ Pháp lại Đông Dương đánh với CS
• 28/2/1946 Pháp ký Hiệp ước Hoa-Pháp thỏa thuận với Tưởng để Quân đội Trung Hoa rút khỏi VN nhường chỗ cho Pháp đại diện phe Đồng Minh giải giới Quân đội Đế quốc Nhật Bản trên toàn cõi VN. Pháp hoàn toàn chủ động trên toàn bộ VN
• 6/3/1946 chính phủ lâm thời của VNDCCH (lúc này CS đã nắm đa số chính phủ) ký với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt cho phép Pháp đưa quân vào miền Bắc thay quân Tưởng, đổi lại Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp. Các Đảng phái khác mất chỗ dựa TQ nên rời chính phủ. Việt Minh CS tìm cách thanh trừng các Đảng phái khác, Pháp làm ngơ.
• 14/9/46 HCM ký Tạm ước Việt – Pháp với nhiều điểm bất lợi cho VN nhưng có lợi cho Việt Minh khi kéo dài được thời gian hòa hoãn khi còn yếu.Tuy nhiên Pháp vẫn muốn chiếm VN và xem VN như 1 thuộc địa nên liên tiếp gây sự với chính phủ lâm thời Việt Minh.
• 21/11/1946, Pháp gửi tối hậu thư cho chính quyền Việt Minh ở Hải Phòng, đòi Việt Minh phải rút khỏi Hải Phòng và trao thành phố lại cho Pháp.
• 23/11/1946, chính quyền Việt Minh từ chối yêu sách của Pháp, và quân Pháp bắt đầu bắn phá Hải Phòng với xe tăng, pháo binh và trọng pháo từ tuần dương hạm Suffren. Sau đó liên tục đánh chiếm các trụ sở Việt Minh khác
• 19/12/1946 HCM ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến sau khi tìm cách đàm phán nhiều lần không kết quả. Và từ đây chiến tranh Đông Dương lần 1 bắt đầu.
• 8/3/1949: Pháp liên lạc với Bảo Đại thành lập Quốc Gia Việt Nam thân Pháp tạo 1 chính phủ người Việt làm đối trọng với VNDCCH, chính phủ do thủ tướng Nguyễn Văn Tâm thân Pháp điều hành, sau này từ 7/7/1954 do Ngô Đình Diệm thân Mỹ điều hành ( QGVN là tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa thân Mỹ sau này)
• 1946- 1950: Việt Minh chưa có nhiều vũ khí nên chủ yếu đánh du kích. Khó thắng được Pháp. Sau 1 số trận đánh Việt Minh cho rút quân chủ lực lên chiến khu Việt Bắc để bảo toàn lực lượng. Những người ở lại chỉ hoạt động du kích, ngày đi làm, đêm hoạt động.
• 18/1/1950 thiết lập quan hệ ngoại giao với TQ, 30/1/50 với Liên Xô nên nhận được vũ khí của Liên Xô thông qua biên giới Trung Quốc (lúc này Mao đã kiểm soát hết Trung Hoa). Từ đây mới có vũ khí đánh trận với Pháp và công khai công kích Mỹ (trước đó vẫn muốn hợp tác với Mỹ đánh Pháp). Và từ đây cũng là bước ngoặc để Việt Minh hoàn toàn theo CS để có 1 chỗ dựa vững chắc cho kháng chiến chống Pháp. Có thể qui sai lầm này cho những thay đổi chính sách cũng như nhận thức sai lầm về HCM của Mỹ
• Pháp cũng bắt đầu chính thức được Mỹ viện trợ từ 1950. Trước đó Mỹ chỉ ngầm ủng hộ Pháp tạo 1 bức tường thành ngăn CS tại Đông Dương
• 13/3- 7/5/54: Trận ĐBP, Việt Minh thắng dẫn đến việc ký hiệp định Geneve kết thúc chiến tranh với Pháp.
Quốc gia Việt Nam (1949- 1955) do Pháp lập làm đối trọng với VNDCCH:
• Tháng 5/1947, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp bao gồm các lực lượng chính trị Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng ủng hộ Bảo Đại thành lập 1 chính phủ.
• Đây là những tổ chức chính trị hoặc tôn giáo từng tham gia chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay hợp tác với Việt Minh chống Pháp nhưng do xung đột với Việt Minh nên chuyển sang ủng hộ Bảo Đại thành lập Quốc gia Việt Nam
• Sau đó, Pháp cử đại diện gặp Bảo Đại đề xuất về việc đàm phán về nền độc lập của Việt Nam và việc thành lập một chính phủ Việt Nam độc lập.
• 8/3/1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập Quốc gia Việt Nam là quốc gia độc lập hội viên trong khối Liên hiệp Pháp. Tuy nhiên Pháp nắm hết quân sự, tài chính, ngoại giao. Lúc này chính phủ Việt Minh (VNDCCH) đã rút vào chiến khu kháng chiến.
• Ngô Đình Diệm làm thủ tướng của QGVN từ 1954.
• QGVN tồn tại đến sau hội nghị Geneve sau đó bị Ngô Đình Diệm xóa bỏ sau khi lên nắm quyền tổng thống sau 1 cuộc Tổng tuyển cử bị cho là gian lận( mà từ xưa giờ ở VN có tổng tuyển cử nào khg gian lận nhỉ). Diệm thành lập VNCH sau đó. Nhiều tài liệu cho rằng Diệm dc Mỹ hậu thuẫn để lật Bảo đại lên làm tổng thống là khg đúng nhé. Các bạn hãy đọc về Ngô đình Diệm để biết thêm vê ông ấy. Từng dc HCM mời về làm thủ tướng cho VNDCCH đấy.
Lá cờ Việt Nam Cộng Hòa dùng sau này chính là lá cờ QGVN năm 1949.
Hội nghị Geneve:
• 27/7/1953, kết thúc chiến tranh Triều Tiên bằng hiệp ước đình chiến ký tại Bàn Môn Điếm ( Panmujon), chia Triều Tiên thành hai vùng Bắc và Nam Triều Tiên, ranh giới là vĩ tuyến 38. Đây chỉ là hiệp ước đình chiến, chứ không phải là hòa ước giữa các bên lâm chiến. Dầu vậy, hiệp ước và giải pháp chia hai nước Triều Tiên được một số nước, kể cả Pháp, xem là mẫu mực để giải quyết vấn đề Đông Dương.
• 26.4.1954 Hội Nghị Genève ngũ cường Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại Genève chính thức khai mạc, một ngày bàn về Đông Dương, một ngày bàn về Triều Tiên.
• Liên Xô đề nghị mở rộng những nước tham dự bằng cách mời thêm các phe lâm chiến ở Đông Dương. Như thế, về vấn đề Đông Dương, hội nghi Genève sẽ có tất cả là 9 phái đoàn tham dự: Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Quốc Gia Việt Nam (lúc này lãnh thổ của QGVN là cả nước), Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Việt Minh đang kháng chiến), Lào và Cam Pu Chia.
• 7.5.1954 Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ. Ngày 8/5/54, Hội Nghị Genève về Đông Dương với sự tham dự của 9 phái đoàn, chính thức khai mạc
• 4/6/1954, trước khi Hiệp định Geneve được ký kết 6 tuần, thủ tướng Pháp Jóeeph Laniel đã ký Hiệp ước Matignon với Thủ tướng Quốc gia Việt Nam công nhận Quốc gia Việt Nam hoàn toàn độc lập khỏi Chính phủ Pháp và là thành viên của khối Liên hiệp Pháp. Theo đó chính phủ Quốc gia Việt Nam sẽ tự chịu trách nhiệm với những hiệp định quốc tế được ký bởi Chính phủ Pháp trước đó nhưng có liên quan tới họ, cũng như không còn bị ràng buộc bởi bất cứ hiệp ước nào do Chính phủ Pháp ký sau này. Hiệp ước cần được ký chính thức sau đó để có hiệu lực về sau này, nhưng 7/5/54 Pháp thua trận ĐBP, sau đó Laniel bị Mendes thay và thủ tướng mới Mendes muốn ký xong hiệp định Genève trước 21/7/54 theo lời hứa với QH Pháp. Do vậy, Hiệp ước Matignon không bao giờ được hoàn thành vì không kịp thời gian và Mendes cũng chỉ lo tập trung cho Genève.
•
• Sau thất bại Điện Biên Phủ (7.5.1954), chẳng những Pháp thay lãnh đạo ở Đông Dương, mà thay luôn cả chính phủ Pháp ở Paris. Nội các thủ tướng Joseph Laniel từ chức ngày 13.6.1954, và Mendès-France, thuộc đảng Xã Hội Cấp Tiến (Socialiste Radical), một thành viên Hội Tam Điểm Pháp, được mời lập chính phủ.
• Mendès-France tuyên bố trước QH sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương trong vòng bốn tuần lễ (chưa đầy một tháng). chính phủ Mendès-France quyết định bỏ rơi Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại, và bằng mọi giá ký kết hiệp ước đình chiến, rút quân Pháp ra khỏi Đông Dương. Mendès-France chính thức nhậm chức ngày 21.6.1954. Nếu tính thêm bốn tuần lễ thì vào khoảng 21.7.1954 ông ta phải giải quyết xong vấn đề Đông Dương.
• 3-5/7/54, Chu Ân Lai mời Hồ chí Minh và Võ nguyên Giáp qua Liễu Châu (Liuzhou), thuộc Tỉnh Quảng Tây (Kwangsi hay Guangxi), Chu Ân Lai khuyên Hồ chí Minh chấp nhận thượng sách là hòa để tránh mở rộng chiến tranh, vì nếu tiếp tục mở rộng chiến tranh, Hoa Kỳ sẽ can thiệp. Với kinh nghiệm chiến tranh Triều Tiên, Chu Ân Lai khuyên Việt Minh không nên đòi hỏi thái quá, khiến Pháp sẽ ở thế phải nhờ Hoa Kỳ can thiệp, trong trường hợp Hoa Kỳ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam, với binh lực hùng hậu, Hoa Kỳ sẽ có thể lật ngược tình thế như trong chiến tranh Triều Tiên trước đây. Như vậy Việt Minh sẽ đuổi được kẻ địch yếu, nhưng lại rước kẻ địch mạnh. Hơn nữa, Việt Minh nên giúp Tân Thủ Tướng Pháp là Mendès-France, để ông ta không bị Quốc Hội Pháp lật đổ. Nếu Mendès-France không thành công, chính phủ Mendès-France sẽ bị đổ, thì có thể sẽ bất lợi đối với phía cộng sản. Về phía phái đoàn Việt Minh, trong Hội Nghị nầy, Võ nguyên Giáp cho biết nếu phải rút đi, thì chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện, phần còn lại thì ở lại miền Nam chờ thời cơ, có thể khoảng 10,000 cán bộ. Việt Minh chấp nhận giải pháp chia hai đất nước, tạm thời hòa hoãn và chuẩn bị tiếp tục tranh đấu sau khi ký kết hiệp ước đình chiến.
• Pháp, Liên Xô và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thỏa thuận giải pháp chia hai nước Việt Nam. Pháp đòi chia ở vĩ tuyến 18. Trung Hoa đề nghị vĩ tuyến 16, rồi đổi vĩ tuyến 17. Sau đó, khi Châu Ân Lai gặp Phạm văn Đồng, đại biểu của Việt Minh, Châu Ân Lai áp đặt ý định của các cường quốc. Phạm văn Đồng đành chấp nhận. Đại Biểu Quốc Gia Việt Nam là Bác Sĩ Trần Văn Đỗ phản đối việc chia cắt đất nước bất cứ ở đâu.
• Cuối cùng, sau những tranh cãi và mặc cả vào buổi chiều ngày 20.7.1954, hiệp ước đình chiến được soạn thảo xong và ký kết sau 12 giờ đêm 20.7, qua sáng 21.7.1954 ( đúng ngày Mendes hứa với QH Pháp)
• Hiệp Định Genève là Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam. Hiệp Định nầy được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Hai nhân vật chính ký vào hiệp ước đình chiến Genève là Henri Delteil, Thiếu Tướng, thay mặt Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ quang Bửu, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Các nước khác cùng ký vào Hiệp Định Genève còn có Anh, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Lào, Cambodia.
• Hai chính phủ Quốc Gia Việt Nam và Hoa Kỳ không ký vào bản Hiệp Định nầy. Hiệp Định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam gồm có 6 chương, 47 điều, trong đó các điều chính như sau:
o Việt Nam chia làm hai vùng tập trung, ranh giới tạm thời từ cửa sông Bến Hải (Tỉnh Quảng Trị), theo dòng sông, đến làng Bồ-Hô-Su và biên giới Lào Việt. [Không nói đến vĩ tuyến 17. Trong thực tế, sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 nên người ta nói nước Việt Nam được chia hai ở vĩ tuyến 17.] Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía Bắc và Quốc Gia Việt Nam ở phía Nam.
o Dọc hai bên bờ sông, thành lập một khu phi quân sự rộng 5 cây số mỗi bên, để làm ‘’khu đệm’’, có hiệu lực từ ngày 14.8.1954.
o Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày Hiệp Định có hiệu lực.
o Cuộc ngưng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27.7 ở Bắc Việt, 1.8 ở Trung Việt và 11.8 ở Nam Việt.
o Mỗi bên sẽ phụ trách tập họp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chánh riêng.
o Cấm phá hủy trước khi rút lui. Không được trả thù hay ngược đãi những người đã hợp tác với phía đối phương.
o Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu nầy sang khu thuộc phía bên kia.
o Cấm đem thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới.
o Tù binh và thường dân bị giữ, được phóng thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi thực sự ngừng bắn.
o Sự giám sát và kiểm soát thi hành Hiệp Định sẽ giao cho một Ủy Ban Quốc Tế.
o Thời hạn rút quân riêng cho từng khu vực kể từ ngày ngừng bắn: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80 ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày). Đợt chót ở khu tập kết Trung Việt (300 ngày).
• Hiệp Định Genève về Đông Dương chỉ là một Hiệp Định có tính cách thuần túy quân sự. Cũng giống như hiệp ước đình chiến Panmunjon (Bàn Môn Điếm) ký ngày 27.7.1953, Hiệp Định đình chiến Genève không phải là một hòa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.
• Sau khi Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam được ký kết, các phái đoàn họp tiếp ngày 21.7.1954 và ‘’thông qua’’ bản ‘’Tuyên bố cuối cùng của Hội Nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương’’. Đây chỉ là lời tuyên bố (Déclaration) của bảy phái đoàn, có tính cách dự kiến tương lai Việt Nam, và đặc biệt không có phái đoàn nào ký tên vào Bản Tuyên Bố nầy, nghĩa là Bản Tuyên Bố không có chữ ký.
• Khi chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (Ngoại Trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì 7 phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Lào và Cambodge (Cambodia) trả lời miệng rằng ‘’đồng ý’’. Phái đoàn Hoa Kỳ và phái đoàn Quốc Gia Việt Nam không đồng ý, và tự đưa ra tuyên bố riêng của mình.
• Bản ‘’Tuyên bố cuối cùng của Hội Nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương’’ gồm 13 điều, trong đó quan trọng nhất là điều 7. Điều nầy ghi rằng: ‘’Hội Nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau Tổng Tuyển Cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng Tuyển Cử sẽ tổ chức vào tháng 7/1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc Tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám Sát và Kiểm Soát Quốc Tế đã nói trong Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự. Kể từ ngày 20/7/1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó’’. Điều 7 của Bản Tuyên Bố được xem là dự kiến về một giải pháp chính trị trong tương lai, theo đó một cuộc Tổng Tuyển Cử sẽ có thể được tổ chức để thống nhất đất nước, mà sau nầy Bắc Việt dựa vào điều nầy để đòi hỏi Nam Việt tổ chức Tổng Tuyển Cử trên toàn quốc.
• Vì phái đoàn Quốc Gia Việt Nam không ký vào Bản Hiệp Định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (Hiệp Định Genève) và nhất là không tham dự vào bản ‘’Tuyên bố cuối cùng’’, nên chính phủ Quốc Gia Việt Nam tự cho rằng không bị ràng buộc vào điều 7 của Bản Tuyên Bố nầy.
• Về phía Hoa Kỳ, Trưởng Phái Đoàn là Bedell Smith cũng đưa ra bản tuyên ngôn ngày 21.7.1954 theo đó, tuy không ký vào Hiệp Định, nhưng Hoa Kỳ cam đoan không đe doạ hay dùng võ lực để sửa đổi Hiệp Định, Hoa Kỳ sẽ nghiêm xét bất cứ một hành vi tái gây hấn vi phạm thỏa hiệp trên, đe dọa hòa bình và an ninh thế giới, Hoa Kỳ tôn trọng việc thực hiện thống nhất Việt Nam bằng Tổng Tuyển Cử tự do đặt dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc.
• Cần chú ý hai điểm:
o Thứ nhất, Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam tức Hiệp Định Đình Chiến Genève chỉ có tính cách thuần túy quân sự, nói về việc rút quân, tập trung quân, thời hạn chuyển quân…mà hoàn toàn không đề cập đến giải pháp chính trị.
o Thứ hai, không có phái đoàn nào ký tên vào bản ‘’Tuyên bố cuối cùng của Hội Nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương’’ ngày 21.7.1954. Một điều rất lạ lùng là sự việc bất thường nầy, một văn kiện quốc tế mà không có chữ ký, lại ít được chú ý và ít được sách báo viết đến.
• Việt Minh dự tính bước đầu rút khoảng 60.000, trong đó 50.000 người là bộ đội và 10.000 người làm công tác chính trị, nhất là những người ‘’đỏ’’ quá, không thể ở lại. Ngoài ra, Việt Minh dự tính sẽ lưu lại miền Nam từ 5.000 đến 10.000 người để chờ thời cơ
• Số người từ miền Bắc di cư vào miền Nam lên đến khoảng gần 900.000 người. Trong số nầy, nhân viên chính quyền (tức công chức) và quân nhân chiếm một phần ít, còn đại đa số là dân chúng
