Rất nhiều tên đường trước năm 1975 vẫn còn dùng. Mong giúp được vài thông tin tham khảo
Thông tin 1
Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thành lập Ủy ban đổi tên đường đô thành để thay tên các con đường do Pháp đặt sang tiếng Việt. Chúng được đặt theo từng cụm, gồm các nhân vật hay sự kiện gần gũi nhau mang nhiều ý nghĩa lịch sử.
Đi từ cửa ngõ vào tới trung tâm Sài Gòn sẽ thấy cả một chiều dài lịch sử của Việt Nam qua từng con đường. Cửa ngõ Bến xe Miền Tây có các đường Hồng Bàng, Hùng Vương, An Dương Vương, Bà Triệu… rồi đến Lý Nam Đế, Lý Thường Kiệt, Triệu Quang Phục… tiếp đến là Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lý Chiêu Hoàng…
Các bến sông Vạn Kiếp, Hàm Tử, Chương Dương… được đặt theo tên các trận đánh hiển hách của quân dân nhà Trần trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai 1284-1285. Còn bến Bạch Đằng được đặt theo con sông nơi Ngô Quyền lãnh đạo quân dân đánh thắng quân Nam Hán năm 938…
Càng gần trung tâm, các sự kiện, nhân vật càng tiệm cận đến hiện tại. Tại quận 1, con đường trước cổng Dinh Độc Lập (nối đến Thảo Cầm viên) dài hơn một km trước đây tên Thống Nhất (nay là đại lộ Lê Duẩn). Tên gọi này được cho là mang hàm ý sau dòng chảy 4.000 năm lịch sử thì tất cả đều tập trung về đây – đại lộ đẹp và rộng dẫn thẳng vào cơ quan quyền lực cao nhất thời đó.
Phía trước, đường một chiều chạy ngang cổng chính Dinh Độc Lập và TAND TP HCM được mang tên Công Lý (được cho là để ám chỉ công lý thì chỉ một chiều đúng hoặc sai). Sau năm 1975, đường Công Lý được đổi tên thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa.
Dọc theo Đại lộ Thống Nhất có 2 đường nhỏ mang tên Hàn Thuyên và Alexandre de Rhodes để nhớ ơn những người đã tạo ra ngôn ngữ cho nước Việt. Hàn Thuyên là người sáng tạo ra chữ Nôm (được người Việt dùng trong gần 10 thế kỷ) để thay cho chữ Hán. Còn Alexandre de Rhodes – giáo sĩ người Pháp, có công lớn trong việc tạo ra chữ Quốc ngữ đang sử dụng.
Hai mặt cửa Đông và Tây chợ Bến Thành cũng có 2 đường song song được đặt tên theo danh nhân Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh một cách đầy ngụ ý. Một người khởi xướng phong trao Đông Du, người còn lại thì kêu gọi cải cách, học theo những tư tưởng tiến bộ của phương Tây để phát triển.
Trong khi đó, tên các danh tướng nhà Trần được đặt cho các tuyến đường gần nhau ở khu Tân Định (quận 1), gồm: Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải…
Cụm danh tướng nhà Lê ở quận 4 gồm: Đinh Lễ, Lê Quốc Hưng, Lê Thạch, Lê Văn Linh.
Ở khu vực quận 3 là những con đường mang tên nhà văn, nhà thơ, học sĩ: Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Lê Ngô Cát, Đặng Trần Côn, Tú Xương, Nguyễn Gia Thiều… cùng các võ tướng Tây Sơn như: Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Ngô Thời Nhiệm.
Các nhà cách mạng tham gia khởi nghĩa Yên Bái chống Pháp (1930) gồm Nguyễn Thái Học (người sáng lập Việt Nam Quốc dân Đảng), Cô Giang (Nguyễn Thị Giang – vợ ông Nguyễn Thái Học), Cô Bắc (tên thật là Nguyễn Thị Bắc – em gái Cô Giang), Phó Đức Chính, Ký Con (tên thật là Đoàn Trần Nghiệp), Nguyễn Khắc Nhu… nằm ở khu vực Bến Thành (quận 1).
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư (một trong hai tác giả sách Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh), Hội đồng đặt tên đường thời đó (1955) thường đặt theo khóm, cụm. Đó là cách đặt tên rất khoa học và rất hay, chỉ cần biết một tên đường có thể hình dung ra một khu vực.
Hiện, những cụm tên danh nhân vẫn được Hội đồng đặt tên đường thành phố giữ nguyên. Bên cạnh đó, một số cụm tên đường mới được hình thành như: cụm đường tên các loài hoa ở quận Phú Nhuận như: Hoa Lan, Hoa Sứ, Hoa Huệ, Hoa Cúc, Hoa Hồng…
Theo đề án Đặt, đổi tên đường, công trình công cộng đến năm 2020, Trung tâm Nghiên cứu đô thị và phát triển, toàn thành phố có hơn 1.770 đường mang tên tạm và khoảng 400 tên đường “có vấn đề” (không có ý nghĩa, trùng, tên khác nhau của cùng một nhân vật), trong khi đó quỹ tên đường của thành phố đang cạn.
Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều đường ghi sai tên danh nhân như: Đoàn Như Hài (đúng là Đoàn Nhữ Hài), Hà Tôn Quyền (đúng là Hà Tông Quyền), Nơ Trang Long (đúng là N’Trang Lơng), Trần Khắc Chân (đúng phải là Trần Khát Chân)…
Ngoài ra, gần 50 đường mang các tên khác nhau của 16 nhân vật như Trần Hưng Đạo – Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ – Quang Trung, Học Lạc – Nguyễn Văn Lạc… Hàng trăm tên đường trùng nhau như Cao Thắng, An Dương Vương… hoặc tên đường không mang tính thẩm mỹ như hai đường Kênh Nước Đen.
Thông tin 2:
Từ lâu, tôi đã có dịp bày tỏ lòng ngưỡng mộ và khâm phục về việc đặt tên cho các đường phố tại Sài Gòn vào năm 1956, ngay sau khi chúng ta dành được độc lập từ tay thực dân Pháp. Vì đây là một công việc quá xuất sắc và quá hoàn thiện, nên tôi vẫn đinh ninh rằng đó phải là một công trình do sự đóng góp công sức và trí tuệ của rất nhiều người, của một ủy ban gồm nhiều học giả, nhiều sử gia, nhiều nhà văn, nhà báo…
Nhưng thật là bất ngờ, bất ngờ đến kinh ngạc, khi qua tài liệu đính kèm của tác giả Nguyễn Văn Luân, chúng ta được biết kiệt tác của lịch sử này đã được hoàn thành bởi… một người. Người đó là ông Ngô Văn Phát, Trưởng Phòng Họa Đồ thuộc Tòa Đô Chánh Sài Gòn.
Nhà văn Thuần Phong Ngô Văn Phát và việc đặt tên đường phố Sài Gòn
Trong những năm làm việc tại Tòa Đô Chánh Sài Gòn, tôi có dịp góp phần trông coi việc xây dựng và tu bổ đường xá, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Sài Gòn Tây (Chợ Lớn) gồm 6 quận 5, 6, 7, 8, 10 và 11, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Sài Gòn Đông (Sài Gòn) gồm 5 quận 1, 2, 3, 4 và 9. Hàng ngày họp với các ông cai lục lộ phụ trách từng khu vực, nghe báo cáo đường thì ngập nước sau cơn mưa, đường thì có ổ gà, nhựa đường tróc hết trơ lớp đá xanh đá đỏ nền đường, đường thì dân xây cất trên lộ giới tràn ra lề đường, nên tôi gần như thuộc lòng tên hơn 300 con đường.
Qua bao nhiêu năm lịch sử của thành phố, hầu hết đều có tên Tây như:
•Boulevard Charner
•Boulevard Galliéni
•Boulevard Kitchener
•Boulevard Norodom v.v
Sau hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 chính quyền Pháp bàn giao cho Chính Phủ Bảo Đại, với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.
Để đánh dấu việc giành độc lập từ tay người Pháp, Toà Đô Chánh Sài Gòn được lệnh gấp rút thay thế toàn bộ tên đường từ tên Pháp qua tên Việt trong khoảng thời gian ngắn nhất. Trong lịch sử của các thành phố có bao nhiêu lần đổi tên hàng loạt toàn bộ các con đường như thế này? Có lẽ vô cùng hiếm hoi.
Việc đối chiếu tên các danh nhân trong lịch sử 4000 năm để đặt tên đường sao cho hợp lý không phải dễ. Chỉ nghĩ đơn thuần, khi dùng tên Vua “Trần Nhân Tôn” và Tướng “Trần Hưng Đạo”, người làm dưới trướng của Vua, để đặt tên cho 2 con đường thì đường nào to và quan trọng hơn? Câu hỏi nhỏ như vậy còn thấy không đơn giản, huống chi cân nhắc cho ngần ấy con đường trong một thời gian gấp rút thật không dễ.
Lúc bấy giờ công việc này được giao cho Ty Kỹ Thuật mà Phòng Hoạ Đồ là phần hành trực tiếp. May mắn thay cho thành phố có được nhà văn Ngô Văn Phát**, bút hiệu Thuần Phong, có bằng Cán Sự Điền Điạ lúc ấy đang giữ chức Trưởng Phòng Hoạ Đồ.
Năm 1956, sau hơn ba tháng nghiên cứu, ông đã đệ trình lên Hội Đồng Đô Thành, và toàn bộ danh sách tên đường ấy đã được chấp thuận. Khi tôi vô làm năm 1965 và hàng ngày lái xe đi công trường, đụng chạm với các con đường mới cảm nhận được sự uyên bác về lịch sử của ông. Nhìn những tên đường trên họa đồ, khu nào thuộc trung tâm thành phố, khu nào thuộc ngoại ô, đường nào tên gì và vị trí gắn bó với nhau, càng suy nghĩ càng hiểu được cái dụng ý sâu xa của tác giả.
Các đường được đặt tên với sự suy nghĩ rất lớp lang mạch lạc với sự cân nhắc đánh giá bao gồm cả công trạng từng anh hùng một lại phù hợp với địa thế, và các dinh thự đã có sẵn từ trước. Tác giả đã cố gắng đem cái nhìn vừa tổng quát lại vừa chi tiết, những khía cạnh vừa tình vừa lý, đôi khi chen lẫn tính hài hước, vào việc đặt tên hiếm có này. Tôi xin kể ra đây vài thí dụ, theo sự suy đoán riêng của mình, bởi vì ông có nói ra đâu, nhưng tôi thấy rõ ràng là ông có ý ấy:
•Đầu tiên là những con đường mang những lý tưởng cao đẹp mà toàn dân hằng ao ước: Tự Do, Công Lý, Dân Chủ, Cộng Hoà, Thống Nhất. Những con đường hoặc công trường này đã nằm ở những vị trí thích hợp nhất.
•Đường đi ngang qua Bộ Y Tế thì có tên nào xứng hơn là Hồng Thập Tự.
•Đường de Lattre de Tassigny chạy từ phi trường Tân Sơn Nhất đến bến Chương Dương đã được đổi tên là Công Lý, phải chăng vì đi ngang qua Pháp Đình Sài Gòn. Con đường dài và đẹp rất xứng đáng. Ba đường Tự Do, Công Lý và Thống Nhất giao kết với nhau nằm sát bên nhau bên cạnh dinh Độc Lập.
•Đại Lộ Nguyễn Huệ nằm giữa trung tâm Sài Gòn nối từ Toà Đô Chánh đến bến Bạch Đằng rất xứng đáng cho vị anh hùng đã dùng chiến thuật thần tốc phá tan hơn 20 vạn quân Thanh. Đại Lộ này cũng ngắn tương xứng với cuộc đời ngắn ngủi của ngài.
•Những danh nhân có liên hệ với nhau thường được xếp gần nhau như Đại Lộ Nguyễn Thái Học với đường Cô Giang và đường Cô Bắc, cả ba là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Hoặc đường Phan Thanh Giản với đường Phan Liêm và đường Phan Ngữ, Phan Liêm và Phan Ngữ là con, đã tiếp tục sự nghiệp chống Pháp sau khi Phan Thanh Giản tuẫn tiết.
•Những đại lộ dài nhất được đặt tên cho các anh hùng Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Lê Lợi và Hai Bà Trưng. Mỗi đường rộng và dài tương xứng với công dựng nước giữ nước của các ngài.
•Đường mang tên Lê Lai, người chịu chết thay cho Lê Lợi thì nhỏ và ngắn hơn nằm cận kề với đại lộ Lê Lợi.
•Đường Khổng Tử và Trang Tử trong Chợ Lớn với đa số cư dân là người Hoa.
•Bờ sông Sài Gòn được chia ra ba đoạn, đặt cho các tên Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, và Bến Hàm Tử, ghi nhớ những trận thuỷ chiến lẫy lừng trong lịch sử chống quân Mông Cổ, chống Nhà Nguyên của Hưng Đạo Đại Vương vào thế kỷ 13.
•Cụ Nguyễn Du, mà thầy đồ Thiệp, người dạy học vỡ lòng cho tôi, khi nói chuyện với cha tôi, bao giờ cũng gọi với danh xưng Cụ Thánh Tiên Điền. Cuốn truyện Kiều của cụ ngày nay được chúng ta dùng như là khuôn mẫu cho tiếng Việt, khi có sự tranh luận về danh từ hay văn phạm, người ta thường trích một câu Kiều làm bằng. Vậy phải tìm đường nào đặt tên cho xứng? Tôi thấy con đường vừa dài vừa có nhiều biệt thự đẹp, với hai hàng cây rợp bóng quanh năm, lại đi ngang qua công viên đẹp nhất Sài Gòn, vườn Bờ Rô, và đi ngang qua Dinh Độc Lập, thì quá xứng đáng. Không có đường nào thích hợp hơn. Tuyệt! Vườn Bờ Rô cũng được đổi tên thành Vườn Tao Đàn làm cho đường Nguyễn Du càng thêm cao sang.
•Vua Lê Thánh Tôn, người lập ra Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, cũng cho mang tên một con đường ở địa thế rất quan trọng, đi ngang qua một công viên góc đường Tự Do, và đi trước mặt Toà Đô Chánh.
•Trường nữ Trung Học Gia Long lớn nhất Sài Gòn thì, (trớ trêu thay?), lại mang tên ông vua sáng lập nhà Nguyễn. Trường nữ mà lại mang tên nam giới! Có lẽ nhà văn Thuần Phong muốn làm một chút gì cho trường nữ Trung Học công lập lớn nhất thủ đô có thêm nữ tính, nên đã đặt tên hai đường song song nhau cặp kè hai bên trường bằng tên của hai nữ sĩ: Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm. Chùa Xá Lợi nằm trên đường Bà Huyện Thanh Quan thấy cũng nhẹ nhàng.
•Thẳng góc với hai đường Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm là đường Hồ Xuân Hương. Ba nữ sĩ nằm bên cạnh nhau, thật là có lý, nhưng có lý hơn nữa có lẽ là đường Hồ Xuân Hương đi ngang qua bệnh viện Da Liễu. Tác giả những câu thơ “Vành ra ba góc da còn thiếu, Khép lại hai bên thịt vẫn thừa” mà cho mang tên đường có bệnh viện Da Liễu có lẽ cũng xứng hợp.
Rất tiếc là lúc vào làm việc thì Thuần Phong Ngô Văn Phát đã về hưu nên tôi không được hân hạnh gặp mặt. Mãi sau này mới có dịp đọc tiểu sử của ông, mới hết thắc mắc làm sao chỉ là một công chức như tôi mà ông đã làm được việc quá xuất sắc và hi hữu này.
Nhà văn, nhà họa đồ Ngô Văn Phát, bút hiệu Thuần Phong, Tố Phang, Đồ Mơ, sinh ngày 16-10-1910 tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
Thuở nhỏ ông học ở Bạc Liêu, Sài Gòn, đậu bằng Thành Chung rồi nhập ngạch họa đồ ngành công chánh. Ông ham thích văn chương từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, từng có thơ đăng trên Phụ Nữ Tân Văn, họa mười hai bài Thập Thủ Liên Hoàn của Thương Tân Thị… Có lúc ông dạy Việt Văn tại trường Pétrus ký Sài Gòn.
Năm 1957 ông có bài đăng trên bộ Tự điển Encyclopedia – Britannica ở Luân Đôn (Anh Quốc). Đó là chuyên đề Khảo cứu về thành phố Sài Gòn.
Năm 1964 chuyên đề Ca dao giảng luận in trên tạp chí Trường Viễn đông Bác cổ ở Paris (sau in thành sách ở Sài Gòn). Cùng năm này Trường Cao học Sorbonne (Paris), ông cũng có chuyên đề Nguyễn Du et la métrique populaire (Nguyễn Du với thể dân ca) trong bộ sách nhan đề: Mélanges sur Nguyen Du (Tạp luận về Nguyễn Du).
Những năm 70 ông được mời giảng môn Văn học dân gian tại Đại học Văn khoa, Sư phạm Huế và Cần Thơ. Ông mất trong năm 1983 tại Sài Gòn
Vũ Linh Châu và Nguyễn Văn Luân
Danh sách tên đường trước 1975 và sau năm 1975:
Bùi Chu > Tôn Thất Tùng
Chi Lăng > Phan Đăng Lưu
Công Lý > Nam Kỳ Khởi Nghĩa
Cộng Hòa > Nguyễn Văn Cừ
Cường Để > Tôn Đức Thắng
Duy Tân > Phạm Ngọc Thạch
Đoàn Thị Điểm > Trương Định (cả Đoàn thị Điểm và Trương Công Định đều bị đổi thành Trương Định)
Đỗ Thành Nhân > Đoàn Văn Bơ
Đồn Đất > Thái Văn Lung
Đồng Khánh > Trần Hưng Đạo
Gia Long > Lý Tự Trọng
Hiền Vương > Võ Thị Sáu
Hồng Thập Tự > Nguyễn Thị Minh Khai {trước NTMK là Xô Viết Nghệ Tĩnh}
Huỳnh Quang Tiên > Hồ Hảo Hớn
Lê Văn Duyệt (Gia Định) > Đinh Tiên Hoàng
Lê Văn Duyệt (Sài Gòn) > Cách Mạng Tháng 8
Minh Mạng > Ngô Gia Tự
Ngô Tùng Châu > Nguyễn Văn Đậu
Ngô Tùng Châu (Sài Gòn)> Lê thị Riêng
Nguyễn Đình Chiểu > Trần Quốc Toản
Nguyễn Hoàng > Trần Phú
Nguyễn Huệ (Phú Nhuận) > Thích Quảng Đức
Nguyễn Huỳnh Đức > Huỳnh Văn Bánh
Nguyễn Minh Chiếu > Nguyễn Trọng Tuyển
Nguyễn Phi > Lê Anh Xuân
Nguyễn Văn Học > Nơ Trang Long
Nguyễn Văn Thinh > Mạc Thị Bưởi
Nguyễn Văn Thoại > Lý Thường Kiệt
Petrus Ký > Lê Hồng Phong
Phạm Đăng Hưng > Mai Thị Lựu
Phan Đình Phùng > Nguyễn Đình Chiểu
Phan Thanh Giản > Điện Biên Phủ
Phan Văn Hùm > Nguyễn thị Nghĩa
Phát Diệm > Trần Đình Xu
Tạ Thu Thâu > Lưu Văn Lang
Thái Lập Thành (Phú Nhuận)> Phan Xích Long
Thái Lập Thành (Q1) > Đông Du
Thành Thái > An Dương Vương
Thoại Ngọc Hầu > Phạm Văn Hai
Thống Nhất > Lê Duẩn
Tổng Đốc Phương > Châu Văn Liêm
Trần Hoàng Quân > Nguyễn Chí Thanh
Trần Quốc Toản > 3 Tháng 2
Trần Quý Cáp > Võ Văn Tần
Triệu Đà > Ngô Quyền
Trịnh Minh Thế > Nguyễn Tất Thành
Trương Công Định > Trương Định (cả Đoàn thị Điểm và Trương Công Định đều bị đổi thành Trương Định)
Trương Tấn Bửu > Trần Huy Liệu
Trương Minh Ký > Lê Văn Sĩ
Trương Minh Giảng > Trần Quốc Thảo
Tự Đức > Nguyễn Văn Thủ
Tự Do > Đồng Khởi
Võ Di Nguy (Phú Nhuận) > Phân thành 2 đường Phan Đình Phùng và Nguyễn Kiệm
Võ Di Nguy (Sài Gòn) > Hồ Tùng Mậu
Võ Tánh (Phú Nhuận) > Hoàng Văn Thụ
Võ Tánh (Sài Gòn) > 1 phần của Nguyễn Trãi, khúc giao với Cống Quỳnh
Yên Đỗ > Lý Chính Thắng
Note thêm:
Đường Route Impériale, Sài Gòn năm 1902 ( Sau năm 1870 đổi thành Nationale, từ năm 1902 đổi thành Paul Blanchy, năm 1952 đổi tên là Trưng Nữ Vương, đến năm 1955 mới có tên là đường Hai Bà Trưng cho đến ngày nay). St.
