Phật Giáo Đại Thừa, Phật Giáo Tiểu Thừa và Mật Tông

Các hiểu biết chung

1. Thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy cho đến thời kỳ Bộ phái (sau Ðức Phật 400 năm) chưa có danh từ Ðại thừa hay Tiểu thừa.

2. Danh từ Tiểu thừa nên hiểu là Thượng tọa bộ và Thuyết nhất thiết hữu bộ. Ngày nay chỉ còn 2 hệ Tiểu thừa này có mặt trên thế giới.

3. Từ ít lâu nay người ta có khuynh hướng tránh dùng từ ngữ “Tiểu thừa” vì một số người không thông hiểu Phật pháp kỹ càng có thể cảm thấy bị tổn thương. Do đó, 2 khái niệm Phật giáo Bắc Tông và Phật giáo Nam Tông ra đời.

4. Giáo lý được phân làm hai truyền thống theo địa lý, truyền thừa, và được gọi là Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông. Sử dụng từ ngữ Bắc tông và Nam tông nói lên tính xuyên suốt của cây đại thọ, giáo lý đạo Phật.

5. Mặc dù truyền thống Bắc Tông và Nam Tông có những khác biệt, tuy nhiên, những khác biệt ấy không cơ bản. Trái lại, những điểm tương đồng lại rất cơ bản như sau:

a/. Cả hai đều nhìn nhận Ðức Phật là bậc Ðạo sư.

b/. Cả hai đều chấp nhận và hành trì giáo lý Tứ thánh đế, Bát chính đạo, Duyên khởi…; đều chấp nhận Tam pháp ấn Vô thường, Khổ, Vô ngã; đều chấp nhận con đường tu tập: Giới-Ðịnh-Tuệ.

c/. Cả hai đều từ chối về một đấng tối cao sáng tạo và ngự trị thế giới.

6. Hậu tố yāna trong thuật ngữ “Hīnayāna” và “Mahāyāna” có nghĩa đen là “cổ xe”, và nó đề cập đến giáo pháp Phật. Bằng việc thực hành theo giáo pháp này, một người có thể vượt qua dòng luân hồi sinh tử, vượt từ bờ mà nó tượng trưng cho dục giới để sang bờ khác mà nó tượng trưng cho cõi giác ngộ. Giáo pháp được so sánh với một cỗ xe mà nó đưa hành giả đến giải thoát.

7. Nói PG Nam tông hay PG Bắc tông là nói theo hướng mà PG Ấn Độ truyền ra bên ngoài. PG Nam tông là tông phái PG được truyền theo hướng Nam nước Ấn Độ, cho nên cũng được gọi là PG Nam truyền chủ yếu thuộc phái Thượng tọa bộ PG, tức PG nguyên thủy (Tiểu thừa). PG Nam tông hay PG Nam truyền hiện diện ở các nước như Sri Lanka, và Đông Nam Á như Myanmar, Thailand, Cambodia, Laos; Còn PG Bắc tông, cũng gọi là PG Bắc truyền, chủ yếu thuộc Đại chúng bộ, tức PG Đại thừa, phổ biến ở các nước Đông Á như Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bản, Đại Hàn; và Việt Nam

8. Giáo pháp cơ bản của PG Đại thừa và PG Tiểu thừa gồm có: Tứ diệu đế , Thập nhị nhân duyên, (Mười hai nhân duyên), Bát chánh đạo , Nhân quả , Nghiệp

(1) Tứ diệu đế (S: Arya Astangika Marga – P: Nidanas): là bốn sự thật quý báu, bao gồm:

  • Khổ đế (những đau khổ của thế gian).
  • Tập đế (nguyên nhân của những đau khổ).
  • Diệt đế (hoàn cảnh an lành sẽ đạt sau khi diệt trừ khổ).
  • Đạo đế (phương pháp diệt đau khổ).

the four truth

(2) Thập nhị nhân duyên (S: Pratitya Samutpada): là mười hai duyên khởi với mười hai yếu tố. các yếu tố này làm loài hữu tình mãi vướng trong luân hồi. Gồm:

  • Vô minh (ngu dốt) ;
  • Hành (những hành động thuộc ý chí tạo nên Nghiệp) ;
  • Thức (nguyên nhân sự kết thành bào thai trong bụng mẹ) ;
  • Danh sắc (toàn bộ tâm, vật lý của một hiện hữu)
  • Lục nhập (sáu giác quan khi tiếp xúc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý)
  • Xúc (tiếp xúc, sáu giác quan tiếp xúc sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)
  • Thọ (cảm giác khi tiếp xúc sáu trần)
  • Ái (ưa thích, đam mê)
  • Thử (chiếm giữ)
  • Hữu (tồn tại)
  • Sinh (tái sinh)
  • Lão tử (già, chết).

The Twelve Links Of Dependent Origination

(3) Bát chánh đạo (S: Arya Astangika Marga: là tám con đường ngay thẳng, hay tám phương tiện nhiệm màu đưa chúng sinh đến đời sống chí diệu, gồm:

  • Chánh kiến (thấy đúng)-
  • Chánh tư duy (suy nghĩ đúng),
  • Chánh ngữ (nói lời đúng, không độc ác),
  • Chánh nghiệp (không làm những việc trái giới luật),
  • Chánh mạng (nghề nghiệp sinh sống chân chính),
  • Chánh tinh tấn (làm việc thiện không làm điều ác),
  • Chánh niệm (suy nghĩ chân chính),
  • Chánh định (thiền định chân chính).

bat chanh dao

(4) Nhân quả (P: Hetuppaccaya): là nguyên nhân và kết quả, làm điều thiện sẽ hưởng an lành.

(5) Nghiệp (S: Karma, P: Kamma): kết quả của một hành động được gây ra bởi ý thức (tâm hay ngôn ngữ). Một nghiệp tốt thường mang lại một kết quả tốt.

Đại Thừa

Thuật ngữ Mahāyāna thường được dịch là “Đại thừa”

Xuất hiện ý nghĩa trong các Kinh nguyên thủy,nhưng được triển khai vào thế kỉ thứ nhất trước công nguyên, Đại thừa là tâm tánh rộng lớn, tròn đồng thái hư, không thiếu không dư, là cỗ xe lớn nhờ dựa trên tính đa dạng của giáo pháp để mở đường cho một số lớn chúng sinh có thể giác ngộ.

Hình tượng tiêu biểu của Đại thừa là Bồ Tát (bodhisattva) với đặc tính vượt trội là lòng bi .

Đại thừa không quá nhấn mạnh đến đời sống xuất gia, cho rằng cư sĩ tại gia cũng có thể đạt Niết-bàn với sự tế độ của chư Phật và chư Bồ Tát.

Theo quan điểm Đại thừa, Niết-bàn không phải chỉ là giải thoát khỏi Luân hồi—mà hơn thế nữa, hành giả giác ngộ về Chân tâm và an trụ trong đó. Mỗi chúng sinh đều mang Phật tính (buddhatā) và nhận ra điều đó là điều tuyệt đối quan trọng.

Truyền thống Đại thừa cho rằng một người phải cứu độ mình bằng việc cứu độ người khác. Những diễn tả của Đại thừa về tu tập như lục độ (pāramitā) minh họa cách một người có thể làm lợi ích chính mình bằng việc giúp kẻ khác. Những giáo thuyết này phản ánh một thế giới quan được đặt cơ sở trên giáo lý Duyên khởi.

Phật giáo Đại thừa là giáo thuyết giúp họ trở thành Phật, trở thành ngang bằng với Phật, người thầy của các śrāvaka. Phật giáo Đại thừa khuyến khích hành giả giảng dạy dù khi đang còn học, một thái độ được đặt cơ sở trên tiền đề rằng hành giả có sẵn khả năng cần thiết cho việc chứng ngộ Phật quả. Người biết rằng mình có khả năng này được gọi là một Bồ-tát. Khái niệm Bồ-tát của Đại thừa mô phỏng theo những miêu tả về những tiền kiếp của Phật Thích Ca Mâu Ni được thuật lại trong văn học Phật giáo. Như vậy, Phật giáo Đại thừa là một giáo thuyết hay một cỗ xe dành cho chư Bồ-tát, một Bồ-tát thừa. Một số hành giả Đại thừa tin rằng tất cả mọi người, không chỉ riêng họ, có khả năng thành Phật. Những hành giả này mong muốn giúp tất cả những người khác nhận ra rằng họ cũng có khả năng này và do đó nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc cứu giúp người khác. Niềm tin của họ cuối cùng phát triển thành giáo thuyết rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tính. Do đó, Phật giáo Đại thừa quan tâm đến người tại gia và thế giới này trong khi Phật giáo Tiểu thừa là một hình thức Phật giáo Tăng lữ được đặc tính bằng việc tránh xa thế gian.

Những Phật tử Đại thừa cho rằng hành giả phải đạt lấy “Niết-bàn tích cực” (apatiṣṭhita-nirvāṇa) mà ở đó vị ấy vẫn tích cực hành hoạt. Chư Bồ-tát như Văn Thù (Mañjuśī), Phổ Hiền (Samantabhadra) và Quán Thế Âm (Avalokiteśvara) có năng lực hơn chư Phật, nhưng tiếp tục hiến trọn đời mình để cứu độ chúng sanh thay vì đạt lấy Phật quả. Những Đức Phật như A Di Đà và Thích Ca Mâu Ni (như một vị Phật vĩnh hằng) không bao giờ nhập vào sự đoạn diệt (parinirvāṇa). Họ tiếp tục cứu giúp chúng sanh. Nhập Niết-bàn thường được xem không gì khác hơn một phương tiện thiện xảo để cứu độ chúng sanh. Không ai thật sự nhập Niết-bàn như một trạng thái cuối cùng, theo quan điểm Đại thừa này.

Một số nhà Đại thừa quan niệm Đức Phật là một người cứu độ chúng sanh cần cứu giúp và phát triển những học thuyết liên quan đến những con đường giải thoát dễ hơn hay việc sử dụng năng lực cứu người của chính Đức Phật. Những học thuyết như vậy chỉ được tìm thấy trong Phật giáo Đại thừa.

Sự khẳng định của Đại thừa rằng việc cứu giúp người khác là một phần cần thiết của nỗ lực độ mình trong khi giáo pháp Tiểu thừa nhấn mạnh việc tự độ.

Đại thừa xem đức Phật như một vị Thần vạn năng, uy lực tuyệt đối. Thọ mệnh của đức Phật là vô cùng, sắc thân của Ngài là vô biên, những gì do Ngài nói ra cũng đều viên mãn không có khuyết điểm, đều là chân lý. Ngoài đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ở Tam thế (Quá khứ, hiện tại, vị lai) còn có vô số Phật các vị Phật khác, như lời của đức Cồ Đàm: Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành. Trong một ngôi chùa theo hệ phái PG Đại thừa thờ rất nhiều hình tượng, Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Phật Dược Sư Lưu Ly, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Di Lặc, Tổ Bồ Đề Đạt Ma.

Đại Thừa cho rằng Niết bàn (S: Nirvana) và Thế gian không khác biệt. Muốn đạt được Niết bàn chỉ là tiêu trừ Vô minh, và nhận thức được thực tướng của các hiện tượng sự vật. Cảnh giới Niết bàn không tồn tại độc lập với Thế gian

Đại thừa không quá chú trọng đến đời sống xuất gia, cư sĩ tại gia cũng có thể đạt đến Niết bàn với sự tế độ của chư Phật và chư Bồ tát. Niết bàn không chỉ là giải thoát khỏi Luân hồi, mà Hành giả còn giác ngộ về Chân tâm và an trú trong đó. PG Đại Thừa xem trọng sự nhập thế, sự liên hệ mật thiết với đời sống thế tục, có như thế mới thực hiện được tính chất phổ độ chúng sinh, giúp chúng sinh vượt qua bể khổ (Bồ Tát hạnh).

Kinh sách của PG Đại thừa viết bằng Phạn ngữ Sanscrit, là ngôn ngữ và chữ viết của giới quý tộc, trí thức ở miền Bắc Ấn Độ cổ đại,

Tiểu Thừa

Phật giáo Tiểu thừa là một hình thức Phật giáo Tăng lữ được đặc tính bằng việc tránh xa thế gian.

Theo giáo pháp của Nhất thiết hữu bộ và Theravāda, mục đích của tu tập là để đạt lấy giải thoát cho chính mình bằng việc đoạn trừ tất cả phiền não. Mỗi khi đạt được giác ngộ, hành giả hoàn thành tất cả những gì cần phải làm và nhập Niết-bàn. Cứu độ kẻ khác không phải là một yêu cầu cần thiết cho việc hoàn thành tu tập. Ngay cả sau khi chứng đắc giác ngộ, việc cứu giúp kẻ khác không được yêu cầu.

Đối với những Phật tử Tiểu thừa, Niết-bàn là mục đích cuối cùng, được một số Phật tử Đại thừa mô tả là sự đoạn diệt thân và tâm.

Phật giáo Nguyên Thủy, Theravadins, nói rằng, tất cả con người phải phấn đấu để trở thành A-La-Hán, giải thoát khỏi chu kỳ Tái sinh (cõi Ta-bà, Samsara) để lên cõi Niết bàn.

Họ cho rằng, chư Phật là những người đàn ông – tinh khiết và đơn giản, từ chối bất kỳ khái niệm nào về tính siêu việt của họ. Tiểu thừa coi đức Phật như một nhân vật lịch sử, một Con người và một Thày dạy, là một vị Giáo chủ chứ không phải như một vị Thần vạn năng, giáo lý của Ngài là con đường đi đến Giác ngộ, như Ngài đã khẳng định rằng mọi chúng sinh đều bình đẳng trong việc chứng ngộ chân lý, điều này không phụ thuộc vào thành phần xuất thân, mà vào hành vi đạo đức và sự hiểu biết về chân tướng của vạn pháp. Trong một ngôi chùa của PG Tiểu thừa, ta thấy chỉ thờ chủ yếu hình tượng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Tiểu Thừa cho rằng Niết bàn là cảnh giới đạt được sau khi thoát khỏi luân hồi sinh tử. Cảnh giới này hoàn toàn khác biệt với cảnh giới Trần thế.

Tiểu Thừa chú trọng sự xuất gia, xa lánh thế gian, vì vậy PG Tiểu thừa quan niệm phải sống cuộc đời của kẻ tu hành. Đối với Tiểu thừa cuộc sống tại gia không thể đem đến sự giải thoát, hình ảnh tiêu biểu của Tiểu thừa là đắc quả A La Hán (S: Arhat), là người phải dựa vào chính bản thân để giải thoát. Không có thần thánh nào có thể làm việc ấy thay ta.

Kinh sách của PG Tiểu thừa viết bằng Phạn ngữ Pali, là ngôn ngữ và chữ viết của giới bình dân ở miền Nam Ấn Độ.

Mật Tông

Mật Tông là từ gốc Hán dùng để gọi pháp môn bắt nguồn từ sự kết hợp giữa Ấn Độ giáo và Phật giáo Đại thừa, được hình thành vào khoảng thế kỷ 5,6 tại Ấn Độ. Mật Tông lại chia thành hai phái: Chân ngôn thừa (Mantrayàna) và Kim cương thừa (Vajrayàna).

Nguồn gốc

Tư tưởng Mật giáo có từ thời Phật giáo Nguyên thủy, thể hiện qua các câu thần chú trong các bộ luật và trong Kinh Khổng Tước. Nửa sau thế kỷ thứ 7 CN, Ấn Độ giáo đã len lỏi trong các hệ thống học thuyết, kể cả giáo lý Phật giáo mà phục hưng trở lại, từ đó tạo ra sự cạnh tranh mãnh liệt đối với Phật giáo đương thời. Lúc bấy giờ, Phật giáo Đại thừa chỉ giới hạn trong phạm vi “kinh viện triết học”, lý luận học vấn, các phạm trù triết học biện luận…. Do vậy, đã tự tách mình ra khỏi phần đông quần chúng trong khi những hiện tượng siêu hình, thần bí có ở khắp nơi trên đất Ấn. Vì thế, để thích ứng với tình thế mới, Phật giáo Đại thừa nhanh chóng và tích cực tiếp cận với Ấn Độ giáo và Bà-la-môn giáo. Ban đầu khi tiếp xúc, phía Phật giáo có những phản ứng khá kịch liệt, có lúc cật lực phê phán những quan niệm nghi chấp về tế tự cầu phúc trừ họa và mật chú. Tuy nhiên vẫn xúc tiến việc hợp lý hóa hoặc Phật giáo hóa theo tinh thần tùy duyên, cuối cùng Mật giáo đã hình thành nên một hệ thống tương đối độc lập trong Phật giáo Đại Thừa..

Ở Tây Tạng, đệ tử chỉ được thu nhận vào Mật tông thông qua một nghi lễ khai ngộ (initiation) đặc biệt được tiến hành bởi một lạt-ma có tên tuổi. Mật tông cũng chủ trương sự tự giác ngộ thông qua việc thiền định (meditation) và niệm chân ngôn (mantra).

Leave a comment